Tạo đà bứt phá cho phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số
VHO - Cuối tuần qua tại TP.HCM, Báo Văn Hóa chủ trì, phối hợp với Trường Đại học Văn hóa TP.HCM tổ chức Hội thảo khoa học “Triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW - Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số”, đã thu hút sự tham gia của nhiều nhà quản lý, chuyên gia, nhà nghiên cứu; cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và giới sáng tạo, cùng trao đổi về những giải pháp đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực phát triển mới.
Phát biểu đề dẫn hội thảo, TS Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn Hóa nhấn mạnh yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ dừng ở việc quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW mà cần đánh giá đúng thực trạng, nhận diện cơ hội và thách thức, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm phát triển công nghiệp văn hóa (CNVH) trong thời đại số.

Thể chế phải đi trước một bước
Theo TS Nguyễn Anh Vũ, “điểm mới của Nghị quyết nằm ở cách tiếp cận phát triển văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, công nghệ và thị trường. CNVH phải được nhìn nhận như một hệ sinh thái, nơi sáng tạo, công nghệ, vốn, thị trường và quản trị cùng tạo ra giá trị mới”.
Từ góc nhìn này, TS Nguyễn Anh Vũ đề xuất chuyển mạnh từ tư duy “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển công nghiệp văn hóa”, trong đó nhà nước đóng vai trò tạo lập môi trường thuận lợi để các chủ thể sáng tạo phát triển, đồng thời xem CNVH là nhiệm vụ liên ngành gắn với kinh tế, du lịch, truyền thông, đô thị và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là câu chuyện hoàn thiện thể chế. PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, yêu cầu hiện nay không chỉ là hỗ trợ hoạt động văn hóa mà cần xây dựng năng lực quản trị hệ sinh thái sáng tạo trong cả môi trường thực và môi trường số. Điều này đòi hỏi các cơ chế tài chính mới có khả năng kích hoạt đổi mới sáng tạo, hỗ trợ các mô hình sáng tạo mới và chấp nhận mức độ rủi ro phù hợp.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cũng đề xuất đổi mới cơ chế đặt hàng trong lĩnh vực văn hóa theo hướng đánh giá hiệu quả đầu ra và tác động xã hội của sản phẩm văn hóa thay vì chỉ tập trung hỗ trợ đầu vào. “Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với các lĩnh vực điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và nội dung số”, bà Phương nhấn mạnh.
Tại phiên thảo luận chuyên đề “Khơi thông nguồn lực để phát triển CNVH”, PGS.TS Thu Phương tiếp tục chỉ ra rằng, Việt Nam đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi như nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, lực lượng lao động trẻ và sự phát triển mạnh của công nghệ số. Tuy nhiên, lợi thế chỉ là điều kiện ban đầu.
Theo bà, điểm nghẽn hiện nay nằm ở thể chế, cơ chế vận hành và chất lượng nguồn nhân lực. Sức sáng tạo đang tập trung trong cộng đồng sáng tạo trẻ nhưng hệ thống chính sách vẫn chưa theo kịp để tạo môi trường phát huy hiệu quả nguồn lực này. Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, vấn đề sở hữu trí tuệ và bản quyền được xem là yếu tố cốt lõi của CNVH.
Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ VHTTDL) cho biết, giá trị gia tăng của CNVH Việt Nam năm 2024 đạt hơn 586 nghìn tỉ đồng, đóng góp 5,09% GDP và tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực. Theo ông, thế giới đang chứng kiến sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo dựa trên công nghệ số. Những quốc gia có hệ sinh thái CNVH phát triển mạnh đều coi bản quyền, dữ liệu và tài sản trí tuệ là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ông Lê Minh Tuấn cho rằng, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, blockchain, thực tế ảo và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Từ thực tiễn đó, ông đề xuất phát triển các nền tảng phân phối nội dung số thuần Việt, hoàn thiện cơ chế bảo hộ bản quyền, đào tạo nguồn nhân lực liên ngành và lựa chọn những lĩnh vực có tiềm năng như game, âm nhạc, điện ảnh… để đầu tư trọng điểm.
Bài toán nhân lực cho hệ sinh thái sáng tạo
Nếu thể chế được xem là điều kiện tiên quyết thì nguồn nhân lực lại là yếu tố quyết định thành công của CNVH. TS Trịnh Đăng Khoa, Bí thư Đảng ủy Trường ĐH Văn hóa TP.HCM cho rằng, hệ thống đào tạo hiện nay vẫn còn nặng về tư duy quản lý hành chính, trong khi những nội dung liên quan đến quản trị hệ sinh thái sáng tạo, thị trường văn hóa và công nghệ số chưa được tích hợp đầy đủ.

Ông Khoa chỉ ra khoảng cách giữa mô hình đào tạo “quản lý văn hóa” với yêu cầu “quản trị văn hóa” trong bối cảnh công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số. Để khắc phục vấn đề này, TS Trịnh Đăng Khoa đề xuất tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng liên ngành, tích hợp kiến thức về kinh tế, quản trị, truyền thông, công nghệ và văn hóa. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, không gian sáng tạo và cộng đồng nghệ sĩ để sinh viên được tiếp cận môi trường thực tiễn.
PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường ĐH Văn hóa TP.HCM, cũng nhìn nhận đào tạo nhân lực đang đứng trước áp lực lớn từ sự thay đổi liên tục của công nghệ. Theo ông, chương trình đào tạo dù được cập nhật thường xuyên cũng khó theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ số. Vì vậy, cùng với chương trình đào tạo chính khóa, nhà trường cũng tăng cường các khóa tập huấn chuyên đề với sự tham gia của chuyên gia, doanh nghiệp và những người đang hoạt động thực tiễn trong ngành.
“Đào tạo thích ứng là hướng đi bắt buộc nếu muốn thu hẹp khoảng cách giữa nhà trường và thực tiễn”, PGS. Lâm Nhân nhấn mạnh.
TS Phạm Huy Quang, quyền Hiệu trưởng Trường ĐH Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM cho biết, dù điện ảnh và sân khấu đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn khoảng cách nhất định với các sân chơi quốc tế.
Theo ông, yếu tố quyết định vẫn là con người. Một trong những khó khăn hiện nay là việc mời nghệ sĩ tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật do vướng quy định về trình độ học thuật. Nhiều ngành đào tạo mới rất cần thiết cho thị trường lao động nhưng khó mở vì thiếu đội ngũ giảng viên có học vị theo quy định.
TS Quang đề xuất đưa nghệ thuật đến gần hơn với học sinh thông qua các chương trình như điện ảnh học đường, sân khấu học đường nhằm hình thành khả năng thưởng thức nghệ thuật từ sớm.
Những gợi ý từ giới sáng tạo và doanh nghiệp
Ở góc độ người trực tiếp sáng tạo, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng chia sẻ, CNVH cần được nhìn nhận khác với các ngành kinh tế thông thường. Theo ông, đầu tư cho văn hóa là quá trình đầu tư dài hơi và khó nhìn thấy kết quả ngay lập tức. Dù không phải lúc nào cũng tạo ra lợi nhuận trực tiếp lớn, nhưng văn hóa mang lại giá trị rất lớn cho hình ảnh quốc gia và nhiều lĩnh vực kinh tế khác.
Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng nhấn mạnh vai trò của các quỹ hỗ trợ nghệ sĩ, quỹ học bổng, quỹ đào tạo và cơ hội học tập quốc tế dành cho tài năng trẻ. Ông cũng cho rằng môi trường sáng tạo cần cởi mở hơn với những thử nghiệm mới. “Văn hóa không chỉ là gìn giữ mà còn là sáng tạo. Muốn có cái mới thì phải chấp nhận thử nghiệm”, ông đề nghị.
Trong phiên thảo luận chuyên đề “Bứt phá phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số” ghi nhận nhiều ý kiến từ doanh nghiệp. Bà Đoàn Thị Thanh Trà, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Dịch vụ lữ hành Saigontourist cho rằng, công nghệ số đang mở ra cơ hội lớn để khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa thông qua du lịch. Theo bà, việc số hóa dữ liệu văn hóa sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng những sản phẩm du lịch trải nghiệm có chiều sâu hơn.
Dược sĩ Phan Văn Hiển, Giám đốc Công ty TNHH Vạn Xuân chia sẻ câu chuyện đưa hình tượng trầu cau vào các sản phẩm chăm sóc đời sống như một cách kết nối thương hiệu với giá trị văn hóa dân tộc.
Trong khi đó, ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Công ty CP Thư viện số Việt Nam (ViLIB) cho rằng, công nghệ số đã trở thành nền tảng cốt lõi của hoạt động xuất bản và phát hành. ViLIB đang phát triển mô hình thư viện số dùng chung nhằm kết nối thư viện, nhà xuất bản, cơ sở đào tạo và người đọc trong một hệ sinh thái thống nhất.
TS Chu Tiến Đạt, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty VTC lại nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy bảo tồn thuần túy sang bảo tồn song hành với phát triển. Theo ông, doanh nghiệp chính là mắt xích quan trọng để hiện thực hóa các giá trị văn hóa trong nền kinh tế số.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Nguyễn Bảo Trung, Tổng Giám đốc AP Saigon Petro, chia sẻ kinh nghiệm đưa các tác phẩm nghệ thuật mang đậm bản sắc Việt lên bao bì sản phẩm và các ấn phẩm truyền thông. Cách làm này vừa tạo dấu ấn thương hiệu vừa góp phần lan tỏa giá trị văn hóa tới người tiêu dùng.
TP.HCM hướng tới trung tâm sáng tạo của khu vực
Tại hội thảo, NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở VHTT TP.HCM đã có bài phát biểu nhìn nhận khá toàn diện về những thuận lợi, khó khăn cũng như định hướng phát triển CNVH của thành phố để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 80. NSND Thanh Thúy đánh giá những tham luận và ý kiến trao đổi tại hội thảo là rất có giá trị, và là nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ công tác hoạch định chính sách.
“TP. HCM đang sở hữu nhiều lợi thế để phát triển CNVH, từ hệ sinh thái sáng tạo nội dung số, cộng đồng nghệ sĩ đông đảo, nguồn nhân lực chất lượng cao cho đến hệ thống di sản văn hóa phong phú. Tuy nhiên, thành phố cũng đang đối mặt với nhiều thách thức về hành lang pháp lý, cơ chế ưu đãi, hệ thống dữ liệu và hạ tầng văn hóa”, NSND Thanh Thúy nhấn mạnh.
Đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước
Phó Giám đốc Sở VHTT TP.HCM Thanh Thúy cho biết, TP.HCM đang đẩy mạnh đầu tư các thiết chế văn hóa lớn, xây dựng chiến lược phát triển CNVH gắn với danh hiệu Thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực điện ảnh, đồng thời nghiên cứu mô hình Quỹ hỗ trợ phát triển CNVH theo hướng đầu tư mạo hiểm có kiểm soát.
Theo bà, CNVH chỉ có thể trở thành động lực tăng trưởng mới khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp, giới sáng tạo và các cơ sở đào tạo.
Những ý kiến trao đổi tại hội thảo cho thấy, CNVH đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá trong kỷ nguyên số. Từ việc hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, bảo vệ bản quyền tác giả đến đào tạo nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là biến nguồn tài nguyên văn hóa thành nguồn lực phát triển.
Khi các mắt xích trong hệ sinh thái cùng vận hành hiệu quả, CNVH không chỉ góp phần tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao vị thế và sức mạnh mềm của Việt Nam trên trường quốc tế.

RSS
