Nhà nước cùng đồng hành

TS PHAN THANH HẢI

VHO - Một mạng lưới chỉ có ý nghĩa khi những cuộc gặp tạo ra hợp tác, hợp tác tạo ra sản phẩm, và sản phẩm mang lại giá trị cho xã hội. Thông điệp ấy trong phát biểu của Bộ trưởng Bộ VHTTDL tại lễ công bố Mạng lưới Phát triển CNVH Việt Nam vừa qua gợi mở một yêu cầu: Đưa khát vọng phát triển văn hóa đi vào những công việc cụ thể, với trách nhiệm rõ ràng và kết quả có thể kiểm chứng.

CNVH cần được nhìn nhận như một phương thức chuyển hóa tài nguyên văn hóa và sức sáng tạo thành động lực phát triển. Di sản, nghệ thuật, ẩm thực, xuất bản hay những tri thức truyền thống chứa đựng giá trị tinh thần, đồng thời có khả năng tạo việc làm, thu nhập và thương hiệu. Khả năng ấy chỉ trở thành hiện thực khi có người đầu tư, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và đưa sản phẩm đến công chúng.

Bởi vậy, việc đặt doanh nghiệp, doanh nhân vào vị trí chủ thể quan trọng mang ý nghĩa vượt ra ngoài lời kêu gọi tài trợ. Trong nhiều hoạt động văn hóa, doanh nghiệp thường được tìm đến khi cần kinh phí tổ chức sự kiện. Nhưng CNVH đòi hỏi một quan hệ sâu hơn: Doanh nghiệp tham gia từ hình thành ý tưởng, phát triển sản phẩm đến phân phối, thương mại hóa và tái đầu tư. Họ đồng hành với quá trình sáng tạo, cùng chia sẻ cơ hội và rủi ro.

Doanh nhân mang đến khả năng nhận diện nhu cầu, huy động vốn và xây dựng mô hình kinh doanh. Nghệ sĩ, nghệ nhân mang đến tài năng, tri thức và chiều sâu văn hóa. Nhà trường cung cấp nghiên cứu, nhân lực; thiết chế văn hóa nắm giữ nguồn tư liệu, không gian và khả năng tiếp cận công chúng. Khi những năng lực ấy được kết nối, một ý tưởng có thể vượt khỏi giới hạn của người khởi xướng để trở thành sản phẩm có sức sống lâu dài.

Đó cũng là lý do mạng lưới cần được vận hành như một cơ chế hợp tác thực chất. Số thành viên đông chưa đủ chứng minh hiệu quả; số cuộc hội thảo nhiều chưa bảo đảm hình thành thị trường. Điều cần theo dõi là có bao nhiêu ý tưởng tìm được đối tác, bao nhiêu dự án được triển khai, bao nhiêu sản phẩm được công chúng đón nhận. Mỗi kết nối cần đi cùng một nhiệm vụ, một đầu mối chịu trách nhiệm và một thời hạn hoàn thành.

Thông điệp Bộ VHTTDL nêu bài toán, lắng nghe doanh nghiệp đề xuất giải pháp thể hiện tinh thần kiến tạo. Nhà nước xác định mục tiêu, mở đường bằng thể chế và sử dụng nguồn lực công để dẫn dắt. Doanh nghiệp chủ động tìm phương án, tổ chức thực hiện và phát triển thị trường. Quan hệ ấy cần được cụ thể hóa bằng những quy định minh bạch, để cam kết đồng hành trở thành điều kiện đầu tư có thể dự liệu, thay vì phụ thuộc vào sự tháo gỡ từng trường hợp.

Với lĩnh vực dựa nhiều vào tài năng và tài sản trí tuệ, môi trường đầu tư thuận lợi phải bao gồm khả năng bảo vệ bản quyền, tiếp cận vốn, khai thác tư liệu và hợp tác với thiết chế công lập. Một doanh nghiệp muốn xây dựng trải nghiệm di sản số cần biết được sử dụng dữ liệu nào, trong giới hạn nào, quyền lợi được bảo đảm ra sao. Một nghệ sĩ hợp tác sản xuất cần biết tác phẩm được khai thác thế nào và thu nhập được phân chia theo nguyên tắc nào.

Công nghệ và trí tuệ nhân tạo đang mở rộng khả năng sáng tạo, phân phối và tiếp cận văn hóa. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi được đặt trên nền tảng hiểu biết và tôn trọng bản sắc. Số hóa di sản cần bảo đảm tính xác thực; khai thác chất liệu truyền thống cần nhận diện nguồn gốc; ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải gắn với trách nhiệm đối với tác giả. Sức hấp dẫn quốc tế bắt đầu từ khả năng thể hiện thuyết phục những giá trị riêng của Việt Nam.

Một vấn đề cần được chú trọng là vị trí của cộng đồng trong quá trình thương mại hóa văn hóa. Nhiều giá trị được gìn giữ qua các thế hệ, bằng công sức của những người không trực tiếp đứng tên sản phẩm. Khi di sản trở thành nguồn thu, cộng đồng cần được tham gia, được ghi nhận và được hưởng lợi. Nếu lợi ích chỉ tập trung ở khâu kinh doanh, còn người gìn giữ di sản tiếp tục khó khăn, nền tảng của phát triển sẽ suy yếu.

Vì thế, doanh thu cần đi cùng thu nhập của người sáng tạo, chất lượng sản phẩm và cơ hội thụ hưởng của người dân. Một chương trình biểu diễn thành công phải tạo được nguồn thu, trả công xứng đáng và mở rộng công chúng. Một sản phẩm du lịch văn hóa có giá trị phải giúp du khách hiểu thêm về nơi đến, đồng thời đóng góp cho bảo tồn. Những thước đo ấy giúp tăng trưởng kinh tế gắn với trách nhiệm văn hóa.

Nhìn từ Huế, yêu cầu này càng rõ. Di sản, áo dài, ẩm thực, thủ công và nghệ thuật biểu diễn tạo nên nguồn lực phong phú, nhưng cần được tổ chức thành những chuỗi sản phẩm có chất lượng và thị trường. Mỗi dự án cần sự phối hợp giữa đơn vị quản lý, doanh nghiệp, nghệ nhân, cơ sở nghiên cứu và truyền thông. Có phương án đầu tư, bản quyền và chia sẻ lợi ích ngay từ đầu, giá trị di sản mới được phát huy bền vững.

Yêu cầu có kết quả sớm là cần thiết, song CNVH cũng cần sự kiên nhẫn để nuôi dưỡng tài năng, thử nghiệm và xây dựng thương hiệu. Chính sách phải tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ, những nhóm sáng tạo trẻ và cơ sở nghề truyền thống. Đây là trách nhiệm chung của cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp. Tinh thần cùng làm chỉ trở thành động lực khi được nâng đỡ bằng thể chế phù hợp và niềm tin hợp tác. Khi ấy, mỗi kết nối hôm nay mới có thể tạo ra một sản phẩm ngày mai, một sinh kế và một đóng góp cho văn hóa Việt Nam.