TP.HCM xây dựng cơ chế hợp tác công, tư trong bảo tồn di sản:

Đặt ra những giới hạn để bảo vệ di sản văn hóa, kiến trúc

THÙY TRANG

VHO - Sở VHTT TP.HCM đang chủ trì tham mưu xây dựng dự thảo quyết định của UBND TP.HCM về cơ chế hợp tác công - tư trong quản lý, khai thác, sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và công trình kiến trúc có giá trị.

Việc huy động nguồn lực tư nhân có thể hỗ trợ cải thiện điều kiện vận hành, phát triển dịch vụ, số hóa tư liệu và tổ chức các hoạt động giáo dục di sản. Tuy nhiên, nếu thiếu giới hạn rõ ràng, hoạt động khai thác có thể dẫn đến thương mại hóa không phù hợp, hạn chế quyền tiếp cận của người dân hoặc tác động đến yếu tố gốc của di tích. Trong quá trình xây dựng dự thảo, kinh nghiệm của TP. Huế về quản lý, sử dụng nguồn công đức và tài trợ để bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cũng được nghiên cứu.

Dự thảo hướng đến huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo tồn, phát huy di sản, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát việc khai thác, bảo vệ tài sản công và quyền lợi cộng đồng.

Đặt ra những giới hạn để bảo vệ di sản văn hóa, kiến trúc - ảnh 1
Phối cảnh dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội và Cây xanh công cộng Bến Bạch Đằng. Đây là công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gắn với di sản và hành trình lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tạo cơ chế huy động nguồn lực

Theo Sở VHTT, việc xây dựng cơ chế xuất phát từ thực tiễn TP.HCM có hệ thống di tích lịch sử, văn hóa và công trình kiến trúc có giá trị đa dạng về loại hình, quy mô, chủ sở hữu và chủ thể quản lý. Nhu cầu bảo vệ, bảo quản, tu bổ, sửa chữa, vận hành, số hóa và phát huy giá trị di sản ngày càng lớn, trong khi nguồn lực ngân sách và năng lực vận hành của từng cơ quan, đơn vị còn có giới hạn.

Thời gian qua, nhiều hình thức huy động nguồn lực xã hội đã được triển khai như tài trợ, công đức, liên doanh, liên kết, thuê dịch vụ, khai thác không gian dịch vụ, tổ chức sự kiện, trưng bày, giáo dục di sản, số hóa và phát triển sản phẩm văn hóa.

Tuy nhiên, ranh giới giữa tài trợ không hoàn lại với hợp tác có lợi ích đối ứng; giữa khai thác dịch vụ với sử dụng tài sản công; giữa hoạt động phát huy giá trị với hoạt động có khả năng tác động đến yếu tố gốc, giá trị kiến trúc và cảnh quan chưa được quy định đồng bộ trong một quy trình chung.

Việc chưa có cơ chế thống nhất dẫn đến khó khăn trong xác định đối tượng, điều kiện hợp tác; lập danh mục và phương án; lựa chọn đối tác; xác định giá trị tài sản, quyền khai thác; quản lý doanh thu, chi phí; phân chia lợi ích; kiểm tra, giám sát, tạm dừng, chấm dứt và bàn giao.

Đồng thời, nếu không có giới hạn và cơ chế kiểm soát chặt chẽ, hoạt động hợp tác có thể làm phát sinh nguy cơ thương mại hóa không phù hợp, hạn chế quyền tiếp cận của cộng đồng, ảnh hưởng yếu tố gốc cấu thành di tích, giá trị kiến trúc, cảnh quan hoặc gây thất thoát tài sản, nguồn lực công.

Vì vậy, việc ban hành quyết định là cần thiết nhằm thể chế hóa thẩm quyền được giao, tạo hành lang pháp lý thống nhất, minh bạch để huy động nguồn lực tư nhân gắn với yêu cầu bảo vệ di tích, công trình kiến trúc có giá trị và lợi ích công cộng.

Dự thảo đề cập hai nhóm cơ chế chính: Đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) theo pháp luật về đầu tư PPP và sử dụng tài sản công vào mục đích liên doanh, liên kết theo pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

Đối với đầu tư theo phương thức PPP, dự thảo quy định phạm vi dự án, loại hợp đồng, cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng, trình tự chuẩn bị và thẩm định dự án, lựa chọn nhà đầu tư, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng. Các nội dung này cần được đối chiếu với pháp luật hiện hành về đầu tư PPP, đầu tư, xây dựng và di sản văn hóa trước khi hoàn thiện.

Đối với việc sử dụng tài sản công để liên doanh, liên kết, dự thảo tập trung vào điều kiện, hình thức sử dụng tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập; thẩm quyền phê duyệt đề án; lập đề án, lựa chọn đối tác; nghĩa vụ tài chính, khấu hao tài sản cố định; quản lý chi phí, nguồn thu và xử lý tài sản khi kết thúc hợp tác.

Dự thảo cũng xác định trách nhiệm của Sở VHTT, các sở chuyên ngành, UBND cấp xã, cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp và đối tác tư.

Bảo đảm lợi ích công cộng

Bên cạnh mục tiêu huy động nguồn lực, dự thảo đặt ra những nguyên tắc nhằm bảo vệ giá trị di sản và ngăn ngừa các tác động không phù hợp trong quá trình khai thác.

Việc quy định cơ chế hợp tác công - tư trong quản lý, khai thác, sử dụng di tích lịch sử, văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị phải tuân thủ quy định của pháp luật về di sản văn hóa, kiến trúc, đầu tư theo phương thức đối tác công - tư và các quy định pháp luật có liên quan.

Việc hợp tác không được làm thay đổi kết cấu, kiến trúc, nguyên trạng của di tích lịch sử, văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị, trừ trường hợp tu bổ, tôn tạo, phục dựng theo quy định. Không làm thay đổi quyền sở hữu, không chuyển giao quản lý nhà nước, không tư nhân hóa di tích, công trình hoặc tài sản công có liên quan.

Dự thảo đồng thời nêu các hành vi không được thực hiện như xâm hại yếu tố gốc, làm biến dạng kiến trúc và cảnh quan; thương mại hóa không phù hợp không gian thờ tự; cản trở quyền tiếp cận hợp pháp của cộng đồng; khai thác vượt phạm vi được chấp thuận; che giấu doanh thu, sử dụng nguồn thu sai mục đích hoặc lợi dụng hợp tác để né tránh quy định về lựa chọn đối tác và quản lý tài sản công.

Những nguyên tắc này cho thấy việc hợp tác cần được xem xét đồng thời trên phương diện huy động nguồn lực, hiệu quả quản lý và yêu cầu bảo tồn. Đối với di tích lịch sử, văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị, hoạt động khai thác phải gắn với trách nhiệm gìn giữ các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc và cảnh quan, không làm ảnh hưởng đến lợi ích công cộng.

Việc huy động nguồn lực tư nhân có thể hỗ trợ cải thiện điều kiện vận hành, phát triển dịch vụ, số hóa tư liệu và tổ chức các hoạt động giáo dục di sản. Tuy nhiên, nếu thiếu giới hạn rõ ràng, hoạt động khai thác có thể dẫn đến thương mại hóa không phù hợp, hạn chế quyền tiếp cận của người dân hoặc tác động đến yếu tố gốc của di tích.

Trong quá trình xây dựng dự thảo, kinh nghiệm của TP. Huế về quản lý, sử dụng nguồn công đức và tài trợ để bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cũng được nghiên cứu. Các nội dung phù hợp về lập danh mục, báo cáo đề xuất, hạch toán, quyết toán, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị được xem xét vận dụng, không sao chép máy móc những cơ chế tài chính đặc thù của địa phương khác.

Hiện dự thảo đang trong quá trình lấy ý kiến và hoàn thiện hồ sơ theo quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các vấn đề về tính tương thích với pháp luật chuyên ngành, quyền tiếp cận của cộng đồng, ranh giới giữa hoạt động dịch vụ và yêu cầu bảo vệ di sản, hiệu quả tài chính cũng như nguy cơ thất thoát tài sản công cần tiếp tục được đánh giá.

Sở VHTT TP.HCM đang tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu và giải trình ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để hoàn thiện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Nếu được ban hành và tổ chức thực hiện phù hợp, cơ chế hợp tác được kỳ vọng mở rộng khả năng huy động nguồn lực hợp pháp để bảo vệ, vận hành, số hóa và phát huy giá trị di tích, công trình kiến trúc có giá trị; góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa và khả năng tiếp cận của người dân.