Gắn kết "Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp" trong đào tạo nhân lực văn hóa:
Giải bài toán của quan hệ cung - cầu
VHO - Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa (CNVH) và kinh tế sáng tạo phát triển mạnh, yêu cầu về nguồn nhân lực cũng ngày càng đa dạng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự liên kết giữa các bên còn thiếu tính bền vững. Công tác dự báo chưa theo kịp nhu cầu thực tiễn, dẫn đến khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động...
Tại hội thảo khoa học quốc tế “Hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới” do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội vừa tổ chức, nhiều ý kiến đã tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy mô hình hợp tác ba bên trong đào tạo nhân lực văn hóa.

Kết nối còn mang tính thời vụ, hụt dự báo
Sự phát triển của các ngành CNVH, kinh tế sáng tạo, công nghệ số và quá trình hội nhập quốc tế đang làm thay đổi không chỉ phương thức sản xuất, phân phối và tiếp nhận sản phẩm văn hóa mà còn cả cơ cấu nghề nghiệp, chuẩn năng lực và phương thức tổ chức lao động. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển nguồn nhân lực văn hóa, từ đào tạo theo khả năng cung ứng của cơ sở giáo dục sang phát triển năng lực gắn với nhu cầu xã hội, đặc thù nghề nghiệp và giá trị văn hóa.
GS.TS Đinh Xuân Dũng, nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương cho biết, qua đánh giá thực tế ở nhiều cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật hiện nay, sự gắn kết giữa ba chủ thể còn mang tính hình thức, phụ thuộc phần lớn vào mối quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo nhà trường với lãnh đạo doanh nghiệp, cơ quan quản lý; chưa trở thành một cơ chế ổn định, có tính chế định. Khi thay đổi nhân sự lãnh đạo, sự gắn kết ấy rất dễ đứt gãy, gián đoạn, kéo theo hệ lụy trực tiếp đến chất lượng đào tạo và cơ hội việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp.
Đồng quan điểm, Ths Trần Nguyễn Việt Anh (Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) chỉ ra tính chất thời vụ của quan hệ hợp tác. Phần lớn hoạt động liên kết vẫn dừng ở việc ký kết biên bản ghi nhớ, tiếp nhận sinh viên thực tập theo các đợt, mời chuyên gia từ doanh nghiệp nói chuyện chuyên đề; chưa hình thành cơ chế đồng thiết kế chương trình, đồng giảng dạy và đồng đánh giá có tính hệ thống, ràng buộc lâu dài.
Cùng với đó, một trong những điểm nghẽn hiện nay là thiếu hệ thống dự báo chuyên biệt về nhu cầu nhân lực văn hóa. Dữ liệu liên quan đang phân tán trong thống kê giáo dục, lao động, văn hóa, du lịch, thông tin, truyền thông và đăng ký doanh nghiệp. Trong khi đó, lao động sáng tạo thường làm việc đa nghề, theo dự án, làm việc tự do hoặc hoạt động trên nền tảng số nên khó được phản ánh đầy đủ. Trong phát triển CNVH, số liệu đóng góp vào GDP cũng chưa cho biết ngành nào thiếu nhân lực, thiếu kỹ năng gì, ở địa bàn nào và trong thời hạn nào. Khi thiếu dữ liệu, nhà trường dựa nhiều vào năng lực hiện có và đánh giá tuyển sinh qua từng năm.
Doanh nghiệp thì lại chỉ phản ánh nhu cầu ngắn hạn, còn Nhà nước khó xác định quy mô đặt hàng. Điều này dẫn tới hệ quả là đào tạo có thể chậm hơn nhu cầu của thực tiễn, cung - cầu nhân lực không “gặp nhau” ở một số chuyên ngành.
Để doanh nghiệp tham gia sâu hơn
Sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thị trường sáng tạo đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường trải nghiệm thực tế và tạo điều kiện để người học tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm văn hóa.
Qua đó, sinh viên từng bước hình thành tư duy đổi mới, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng vận dụng công nghệ, đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của thị trường lao động. Hơn nữa, doanh nghiệp cần phát huy vai trò đối tác đồng hành cùng nhà trường, tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực hành nghề nghiệp và phản hồi nhu cầu thực tế để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng nhân lực.
Theo Tổng Giám đốc Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện VTC Nguyễn Ngọc Bảo, trong phát triển CNVH cần có nhiều sản phẩm chất lượng, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Để tạo ra các sản phẩm thì nhân lực là yếu tố cốt lõi. Đối với sinh viên, việc đầu tiên là phải nắm vững tri thức gốc. Trên nền tảng đó, công nghệ và chuyển đổi số trở thành công cụ hỗ trợ quá trình thiết kế, chuyển tải và sáng tạo, góp phần tạo ra những sản phẩm văn hóa phù hợp. Sinh viên ngoài học tập trong nhà trường cần tăng cường tham gia các hoạt động kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, qua đó nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo. Thông qua sự kết nối này, sinh viên có cơ hội trực tiếp tham gia sáng tạo những sản phẩm đáp ứng yêu cầu thực tế.
Ông Nguyễn Ngọc Bảo cũng nhấn mạnh, sản phẩm văn hóa đòi hỏi tính chính xác, chuẩn mực. Nếu mải chạy theo tính thị trường, rất dễ dẫn đến nguy cơ xuất hiện những sản phẩm phai mờ bản sắc văn hóa. Vì vậy, doanh nghiệp rất cần những sinh viên có nền tảng tri thức gốc vững chắc được tích lũy qua quá trình đào tạo trên giảng đường, có khả năng ứng dụng công nghệ để chuyển hóa tri thức đó thành sản phẩm. Cùng với việc doanh nghiệp am hiểu thị trường, sự kết hợp giữa các yếu tố này sẽ tạo cơ sở để phát triển các sản phẩm CNVH. Đồng thời, các bên cần sẵn sàng thí điểm những ý tưởng mới của sinh viên dựa trên nền tảng tri thức gốc. Hợp tác giữa bên có thể thông qua các trung tâm đổi mới sáng tạo.
Trên thực tế, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường gặp trở ngại về nhân sự hướng dẫn, quỹ thời gian và kinh phí khi tiếp nhận sinh viên thực tập. Nếu hoạt động hợp tác chỉ dừng ở việc tiếp nhận người học mà chưa mang lại lợi ích thiết thực, doanh nghiệp sẽ thiếu động lực để tham gia lâu dài. Do đó, GS.TS Đinh Xuân Dũng cho rằng, không nên chỉ coi doanh nghiệp là nơi thực tập. Cao hơn, qua tiếp nhận, họ được trực tiếp đánh giá kết quả thực tập của sinh viên, là người “phản biện” khách quan, thẳng thắn nội dung và kết quả đào tạo của nhà trường; giúp nhà trường cân nhắc, bổ sung, điều chỉnh chương trình, nội dung đào tạo.
Ths Lương Giao Hy, Giám đốc Công ty TNHH Zion Travel cho rằng, doanh nghiệp cần được tham gia nhiều hơn vào quá trình đào tạo với vai trò đối tác chuyên môn, cung cấp thông tin về nhu cầu kỹ năng, vấn đề thực tế, dữ liệu hoặc nhiệm vụ nghề nghiệp; cử chuyên gia hướng dẫn; tham gia đánh giá sản phẩm và phản hồi về năng lực của sinh viên. Doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận sinh viên ở cuối quá trình mà tham gia từ đầu vào của chương trình. Ngoài ra, cần thiết kế cơ chế để doanh nghiệp nhận được lợi ích từ hợp tác như tiếp cận nguồn nhân lực, tham gia tuyển dụng, sử dụng sản phẩm dự án, tiếp cận nghiên cứu ứng dụng hoặc được ghi nhận đóng góp đào tạo.

RSS