AI làm giàu cho ai trong nền kinh tế sáng tạo?

Bài 2: UNESCO muốn đưa người sáng tạo trở lại vị trí trung tâm

CẨM TÚ - BẠCH NGỌC

VHO - Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở rộng quy mô của nền kinh tế sáng tạo với tốc độ chưa từng có. Nhưng khi công cụ sáng tạo trở nên phổ biến, khả năng tạo ra nội dung không còn là lợi thế duy nhất.

Bài 2: UNESCO muốn đưa người sáng tạo trở lại vị trí trung tâm - ảnh 1

AI có thể tạo ra nhiều nội dung hơn, nhưng ai được nhìn thấy?

Người sáng tạo còn phải có năng lực tham gia thị trường số, được công chúng nhìn thấy, có dữ liệu để phát triển sản phẩm và quan trọng hơn, giữ được quyền đối với giá trị mà lao động sáng tạo tạo ra.

Báo cáo Re|Shaping Policies for Creativity 2026 của UNESCO đưa ra những con số rất đáng suy nghĩ. 63% quốc gia, vùng lãnh thổ được khảo sát đã có chương trình hỗ trợ sáng tạo số, song tỷ lệ người sở hữu các kỹ năng số thiết yếu chỉ đạt 67% tại các nước phát triển, trong khi ở các nước đang phát triển là 28%.

Khoảng cách ấy đặt ra một vấn đề lớn với nền kinh tế sáng tạo trong kỷ nguyên AI: Công nghệ có thể mở cửa cho tất cả, nhưng năng lực bước qua cánh cửa ấy lại chưa đồng đều.

Trong nhiều năm, cuộc cách mạng số được kỳ vọng sẽ làm giảm khoảng cách giữa người sáng tạo và công chúng. Chỉ cần một thiết bị kết nối mạng, nghệ sĩ, nhà làm phim, nhạc sĩ, nhà thiết kế hay người làm nội dung có thể đưa sản phẩm của mình ra thị trường rộng lớn.

AI tiếp tục đẩy khả năng ấy lên một cấp độ mới. Công cụ tạo sinh giúp rút ngắn thời gian sản xuất, giảm chi phí thử nghiệm và mở rộng khả năng tiếp cận những công đoạn trước đây đòi hỏi đội ngũ chuyên môn lớn. Nhưng thị trường càng nhiều nội dung, việc được nhìn thấy càng trở nên khó khăn.

UNESCO lưu ý rằng hệ sinh thái số đang ngày càng tập trung vào một số nền tảng lớn. Các cơ chế tuyển chọn và phân phối nội dung thiếu minh bạch có thể ưu tiên nhóm nghệ sĩ đã có độ nhận diện cao, trong khi những người sáng tạo ít tên tuổi khó tiếp cận công chúng.

Khi thuật toán trở thành một phần quan trọng của quá trình phân phối, quyền được xuất hiện trước khán giả cũng trở thành một dạng tài sản kinh tế. Đây là điểm cần được nhìn nhận nghiêm túc khi nói về AI và công nghiệp văn hóa.

Nếu một nghệ sĩ có thể tạo ra hàng trăm sản phẩm trong thời gian trước đây chỉ đủ để hoàn thành vài sản phẩm, nhưng phần lớn tác phẩm không tìm được khán giả thì năng lực sản xuất tăng chưa chắc tạo ra thu nhập tương ứng.

Sự dư thừa nội dung cũng có thể làm thay đổi cán cân giá trị. Khi chi phí tạo ra một sản phẩm giảm xuống, sự khan hiếm chuyển sang một yếu tố khác, đó là sự chú ý của công chúng.

Ai kiểm soát khả năng phân phối, người đó có ảnh hưởng lớn tới khả năng một tác phẩm được nhìn thấy.

Vì thế, bảo vệ người sáng tạo trong môi trường AI không thể chỉ nói về bản quyền sau khi tác phẩm đã hoàn thành. Quyền tiếp cận thị trường, khả năng được phát hiện và cơ hội xây dựng công chúng cũng cần được xem như một phần của hệ sinh thái sáng tạo.

UNESCO ghi nhận 80% quốc gia, vùng lãnh thổ được báo cáo đã triển khai các biện pháp nâng cao khả năng tiếp cận và khả năng được khám phá của nội dung văn hóa số trong nước.

Con số này cho thấy chính sách văn hóa đang bắt đầu quan tâm tới một vấn đề mới, làm thế nào để tác phẩm nội địa không bị chìm trong một thị trường số ngày càng đông đúc.

Theo Báo cáo Re|Shaping Policies for Creativity 2026, doanh thu từ các dịch vụ số chiếm 35% tổng thu nhập của người sáng tạo trên toàn cầu vào năm 2023, so với 17% năm 2018, tăng 18% trong giai đoạn 2018 - 2023.

Khi nguồn thu số đã trở thành một phần ngày càng lớn trong sinh kế của người sáng tạo, chính sách văn hóa cần đi sâu hơn vào việc bảo vệ quyền tác giả trong môi trường số, bảo đảm khả năng kiểm soát tác phẩm và xây dựng cơ chế phân chia lợi ích phù hợp.

UNESCO đồng thời lưu ý rằng sự gia tăng doanh thu số đang diễn ra cùng những rủi ro về việc làm thiếu ổn định, thu nhập bấp bênh và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, phát triển thị trường số cần được đặt song song với việc bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế của người sáng tạo.

Bài 2: UNESCO muốn đưa người sáng tạo trở lại vị trí trung tâm - ảnh 2

Khoảng trống 48% và bài toán chưa biết công chúng đang xem gì

Có một con số khác ít được nhắc tới nhưng có ý nghĩa rất lớn với quản trị văn hóa số. Chỉ 48% quốc gia, vùng lãnh thổ được khảo sát đang phát triển hệ thống thống kê về tiêu dùng nội dung văn hóa số.

Nói cách khác, hơn một nửa số quốc gia vẫn chưa có đầy đủ công cụ để biết công chúng đang tiêu thụ những sản phẩm văn hóa nào trên môi trường số, họ tiếp cận nội dung qua đâu và những thay đổi ấy đang tác động ra sao tới thị trường sáng tạo.

Đây là khoảng trống đáng lưu ý. Trong nền kinh tế truyền thống, số lượng vé bán ra, sách phát hành, đĩa nhạc tiêu thụ hay lượng khách tới một sự kiện có thể tạo thành những chỉ báo tương đối rõ.

Với môi trường số, dấu vết tiêu dùng phân tán trên nhiều nền tảng, trong khi dữ liệu người dùng thường thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp công nghệ.

Nếu thiếu dữ liệu, nhà quản lý khó xác định chính xác thị trường đang vận động theo hướng nào. Người sáng tạo cũng khó biết công chúng của mình đang ở đâu. Doanh nghiệp văn hóa khó đánh giá đầy đủ giá trị của một sản phẩm. Chính sách hỗ trợ vì thế có nguy cơ đi sau sự thay đổi của thị trường.

UNESCO chỉ ra rằng việc thu thập dữ liệu văn hóa số gặp nhiều trở ngại, trong đó có sự thiếu minh bạch của các nền tảng lớn và những khó khăn về phương pháp thống kê. Đặt trong câu chuyện AI, dữ liệu không còn là phần việc kỹ thuật mà đang trở thành một nguồn lực của nền kinh tế sáng tạo.

Dữ liệu văn hóa đang trở thành tài sản mới

AI cần dữ liệu để học, phân tích, dự đoán và tạo ra sản phẩm mới. Với lĩnh vực văn hóa, dữ liệu ấy có thể là sách, hình ảnh, âm nhạc, phim ảnh, thiết kế, tư liệu lịch sử, ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian hay các bộ sưu tập di sản đã được số hóa.

UNESCO xác định dữ liệu văn hóa là một nguồn quan trọng đối với quá trình phát triển AI, song vai trò của nguồn lực này vẫn chưa được nhận diện đầy đủ trong nhiều khung chính sách. Báo cáo cũng ghi nhận 67% quốc gia, vùng lãnh thổ được báo cáo đã có hệ thống kiểm kê tiêu chuẩn đối với các bộ sưu tập di sản văn hóa được số hóa.

Con số 67% có thể nhìn theo một hướng rộng hơn. Khi di sản được số hóa, chúng ta không chỉ tạo ra một kho tư liệu để lưu trữ mà đang hình thành một lớp tài nguyên có thể tham gia vào giáo dục, nghiên cứu, công nghiệp nội dung và các hệ thống AI trong tương lai.

Với Việt Nam, ý nghĩa của câu chuyện này đặc biệt lớn. Một kho dữ liệu có cấu trúc về tiếng Việt, văn học, âm nhạc, mỹ thuật, kiến trúc, lễ hội, làng nghề, điện ảnh, sân khấu và di sản có thể trở thành nền tảng để phát triển các sản phẩm AI mang đặc trưng, đậm màu sắc văn hoá Việt Nam.

AI hiểu tiếng Việt sâu hơn sẽ cần dữ liệu tiếng Việt có chất lượng. AI hiểu lịch sử Việt Nam cần nguồn tư liệu lịch sử được số hóa và chuẩn hóa. AI hỗ trợ phát triển nội dung về di sản Việt Nam cần một hệ thống dữ liệu có nguồn gốc rõ ràng, được quản lý quyền sử dụng phù hợp. Bởi vậy, số hóa văn hóa đang mang thêm một ý nghĩa kinh tế mới.

Nếu dữ liệu được chuẩn hóa nhưng quyền sử dụng không rõ ràng, nguồn lực văn hóa có thể được khai thác mà chủ thể tạo ra nó không nhận được lợi ích tương xứng. Nếu dữ liệu bị phân tán, thiếu chuẩn hóa hoặc không có cơ chế quản lý, Việt Nam sẽ khó xây dựng năng lực AI hiểu sâu về chính nền văn hóa của mình.

Bảo vệ dữ liệu văn hóa vì thế cũng là bảo vệ nguồn nguyên liệu của nền kinh tế sáng tạo tương lai.

Bài 2: UNESCO muốn đưa người sáng tạo trở lại vị trí trung tâm - ảnh 3

Người sáng tạo đã thực sự kiểm soát được giá trị?

UNESCO đưa ra một nghịch lý đáng suy nghĩ. 95% quốc gia, vùng lãnh thổ được báo cáo có luật điều chỉnh sở hữu trí tuệ, nhưng sự phức tạp của quá trình huấn luyện và tạo sinh AI đang khiến các quy định hiện hành gặp khó khăn trong việc bảo vệ đầy đủ nghệ sĩ, người sáng tạo và tính chất tập thể của dữ liệu được sử dụng để huấn luyện AI.

Có luật chưa đồng nghĩa với việc người sáng tạo đã kiểm soát đầy đủ giá trị của tác phẩm trong môi trường công nghệ mới.

Đây cũng là lý do UNESCO đặt vấn đề về dữ liệu, quyền sử dụng, khả năng nhận diện tác phẩm và cơ chế thù lao trong hệ sinh thái AI. Báo cáo không nhìn công nghệ như một lực lượng cần bị ngăn cản, mà đặt trọng tâm vào việc xây dựng các quy tắc để công nghệ phát triển song hành với quyền của người sáng tạo.

Việt Nam đã bắt đầu bước vào không gian pháp lý này. Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, tạo khuôn khổ pháp lý chuyên biệt về AI, trong đó việc thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu phục vụ phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống AI phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan, trong đó có sở hữu trí tuệ.

Đến tháng 9.2026, Bộ VHTTDL ban hành Văn bản hợp nhất số 6154/VBHN-BVHTTDL, hợp nhất các quy định liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan. Bản quy định này đã đề cập tới sản phẩm có sử dụng AI và việc sử dụng văn bản, dữ liệu được bảo hộ cho hoạt động huấn luyện hệ thống AI.

Một yêu cầu đáng lưu ý là phải nhận diện mức độ đóng góp của con người đối với tác phẩm có sử dụng AI. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả cần mô tả việc sử dụng AI, công đoạn được hỗ trợ, tính chất hỗ trợ hay tạo sinh, phần nội dung do con người tạo ra và phần do trí tuệ nhân tạo tạo ra.

Những quy định ấy mở ra một cách tiếp cận phù hợp với thực tế sáng tạo mới. AI có thể tham gia sâu vào quy trình, nhưng sự hiện diện của công nghệ không làm biến mất vai trò của con người.

Vấn đề tiếp theo là thị trường sẽ vận hành quyền ấy ra sao. Khi năng suất tăng, phần giá trị của người sáng tạo sẽ đi về đâu? Đây có lẽ là điểm nối quan trọng nhất giữa AI và kinh tế sáng tạo.

AI giúp doanh nghiệp sản xuất nhanh hơn, thử nghiệm nhiều phương án hơn và giảm một phần chi phí. Với game, công cụ AI có thể hỗ trợ phát triển nhân vật và bối cảnh. Điện ảnh có thể sử dụng AI trong khâu tiền kỳ, hậu kỳ.

Thiết kế có thể tạo ra nhiều phương án hình ảnh trong thời gian ngắn. Xuất bản có thể ứng dụng AI vào biên tập, dịch thuật và chuyển văn bản thành sách nói.

Năng suất tăng là lợi ích rất rõ. Nhưng khi năng suất tăng, phần giá trị được tạo thêm sẽ được phân bổ ra sao lại là câu chuyện khác.

Nếu một sản phẩm đạt doanh thu cao nhờ ứng dụng AI, người sáng tạo nhận được phần lợi ích thế nào? Nếu tác phẩm của hàng nghìn tác giả trở thành nguồn dữ liệu phục vụ hệ thống thương mại, cơ chế ghi nhận quyền lợi được xây dựng ra sao?

Khi một nền tảng có khả năng quyết định tác phẩm nào được ưu tiên xuất hiện trước hàng triệu người dùng, quyền lực kinh tế ấy được cân bằng bằng cơ chế nào? Đây là những vấn đề sẽ quyết định diện mạo của nền kinh tế sáng tạo trong giai đoạn mới.

UNESCO cũng ghi nhận một khoảng cách rất lớn về kỹ năng số. 67% người dân tại các nước phát triển có kỹ năng số thiết yếu, trong khi tỷ lệ này tại các nước đang phát triển chỉ là 28%.

Với công nghiệp văn hóa, khoảng cách ấy có thể nhanh chóng chuyển thành khoảng cách về cơ hội.

AI càng trở thành công cụ phổ biến, người có kỹ năng tốt càng có khả năng tạo ra sản phẩm nhanh, tiếp cận thị trường rộng và thích ứng với mô hình kinh doanh mới. Người thiếu kỹ năng số có nguy cơ chỉ đứng ở phía cung cấp nội dung, trong khi quyền kiểm soát công nghệ, dữ liệu và phân phối nằm ở những chủ thể khác.

Vì vậy, đào tạo kỹ năng số cho người sáng tạo không thể xem như một hoạt động bổ trợ. Đó là điều kiện để họ có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị mới.