Củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng từ chiến lược phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới:

Bài 1: Khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới

VÕ NGỌC TOẢN

VHO - Thông qua Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Đảng ta đã xác lập văn hóa ở vị thế “hệ điều hành” dẫn dắt sự phát triển, qua đó đã nâng tầm văn hóa từ một lĩnh vực phụ trợ sang vị thế điều tiết toàn bộ đời sống xã hội.

Bài 1: Khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới - ảnh 1
Chiến lược kiến tạo sức mạnh mềm quốc gia

Đây không chỉ là công cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc, mà còn là chiến lược cốt tử nhằm xây dựng “sức đề kháng” chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước thách thức của kỷ nguyên số.

Văn hóa là “căn cước” tồn vong và động lực vươn mình của dân tộc

Lịch sử hưng vong của nhân loại hàng ngàn năm qua đã chứng minh chân lý: Một quốc gia có thể thất bại tạm thời về kinh tế và đứng dậy sau một vài thập kỷ; một quốc gia có thể bị tàn phá nặng nề bởi xung đột vũ trang hay chiến tranh sắc tộc, nhưng vẫn có thể tái thiết bằng ý chí quật cường.

Song, nếu một dân tộc bị gãy đổ về hệ giá trị, đánh mất bản sắc văn hóa và niềm tin chính trị, dân tộc đó sẽ vĩnh viễn bị xóa tên trên bản đồ địa chính trị thế giới, mặc cho dân tộc ấy có sở hữu nền tảng kinh tế hùng cường đến đâu.

Với Việt Nam, bước vào giai đoạn cách mạng mới, với những kỳ vọng về sự bứt phá, vươn mình, thì “sức mạnh mềm” cũng như “chủ quyền tư tưởng” chính là sự sống còn của chế độ.

Do vậy, sự kiện Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam được xem là dấu mốc lịch sử mang tính thời đại của Văn hóa Việt.

Đây không đơn thuần là một văn bản chiến lược của ngành Văn hóa, mà là “bản tuyên ngôn” về tư duy quản trị văn hóa hiện đại. Đột phá có tính cách mạng về lý luận chính là việc xác lập văn hóa ở vị thế là “hệ điều hành” đời sống xã hội.

Việc thấu hiểu, lan tỏa và triển khai đúng vị thế này chính là một trong những vũ khí chính trị sắc bén để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là cơ sở để nhận diện và loại bỏ những mưu đồ “xâm lăng văn hóa” mà các phần tử thù địch, chống đối đã và đang triển khai ráo riết, tinh vi.

Bài 1: Khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới - ảnh 2
Sự kiện Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam được xem là dấu mốc lịch sử mang tính thời đại của Văn hóa Việt

Bước ngoặt trong tư duy lý luận về lãnh đạo và phát triển văn hoá

Để thấu suốt tầm vóc của Nghị quyết số 80, cần đặt văn kiện này trong chỉnh thể thống nhất về lý luận xuyên suốt hơn 80 năm lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc.

Ngay từ năm 1943, khi dân tộc còn trong đêm tối nô lệ, bản Đề cương về Văn hóa Việt Nam đã xác lập mang đầy đủ tính dân tộc, khoa học và đại chúng, khi ấy, văn hóa đã trở thành vũ khí sắc bén đưa dân tộc thoát khỏi xiềng xích thực dân để rồi một tuyên ngôn bất hủ “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết và phát đi.

Đến thời kỳ đổi mới, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI thì văn hóa được định vị là “nền tảng tinh thần của xã hội”, là “mục tiêu và động lực của phát triển”.

Nếu “hệ điều hành” văn hóa bị nhiễm các loại “virus” ngoại lai tiêu cực, sự thực dụng hay lối sống ích kỷ, thì mọi thành tựu về chính trị, kinh tế, xã hội cũng sẽ trở nên lệch lạc, mất phương hướng và dễ dàng mục ruỗng, suy thoái và sụp đổ từ bên trong chỉ là vấn đề thời gian.

Bước vào giai đoạn cách mạng mới, nhận thức lý luận lãnh đạo và phát triển văn hóa đã được Đảng ta kế thừa, phát triển lên tầm cao mới - Văn hóa là “Hệ điều hành”.

Tuy thuật ngữ ấy mang hơi thở công nghệ nhưng chứa đựng triết lý sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng trong bối cảnh dân tộc ta đang ra sức phấn đấu cho mục tiêu 100 năm thành lập Đảng (2030) và xa hơn là mục tiêu của 100 năm thắp sáng ngọn lửa độc lập, tự do (2045).

Trong lý luận về khoa học máy tính, “hệ điều hành” là giao diện nền tảng điều phối toàn bộ tài nguyên. Nếu hệ điều hành bị “lỗi” hoặc nhiễm mã độc, dù máy tính có bộ vi xử lý mạnh mẽ đến đâu cũng sẽ hoạt động sai lệch, gây hại cho người dùng.

Bài 1: Khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới - ảnh 3
Đảng đã nhất quán tư duy: Muốn văn hóa làm “hệ điều hành” thì cần phải có sự đầu tư nguồn lực tương xứng

Một khi khẳng định văn hóa là “hệ điều hành” có nghĩa là mọi định hướng, chính sách phát triển đất nước đều phải được “quét” qua bộ lọc, soi rọi qua lăng kính giá trị văn hóa dân tộc. Thử đặt vấn đề, một dự án mang lại lợi nhuận lên đến nghìn tỉ nhưng nếu xâm phạm không gian di sản, làm suy đồi đạo đức xã hội thì dự án đó là “lỗi hệ thống” và cần phải loại bỏ ngay lập tức.

Đây cũng là cách Đảng ta khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và sự thẩm thấu của các giá trị đạo đức cách mạng vào mọi “ngóc ngách” của đời sống xã hội.

Bác bỏ trực diện những “góc nhìn” lệch lạc

Hiện nay, một trong những luận điệu nguy hiểm nhất mà những kẻ mang tư tưởng “xét lại” thường xuyên lợi dụng là việc tuyệt đối hóa sức mạnh kinh tế để hạ thấp vai trò quản lý của Đảng đối với văn hóa, khi cho rằng “Văn hóa là sản phẩm tự phát của kinh tế”, “Khi đời sống vật chất dư dả thì văn hóa tự khắc sẽ tốt đẹp”.

Những luận điệu tương tự như vậy đã ngấm ngầm “cổ xúy” cho tư duy tăng trưởng bằng “mọi giá” và đòi hỏi “phi chính trị hóa” văn hóa. Và sự ra đời của Nghị quyết 80 đã kịp thời cung cấp những luận cứ thuyết phục nhằm thẳng vào những nhận định chủ quan, phiến diện này:

Trước tiên, việc xác lập quy định bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho văn hóa là một tuyên bố chính trị mạnh mẽ. Nhà nước không coi văn hóa là khoản “chi tiêu dùng” mà xác định đây là “đầu tư phát triển”.

Đảng đã nhất quán tư duy: Muốn văn hóa làm “hệ điều hành” thì cần phải có sự đầu tư nguồn lực tương xứng để “hệ điều hành” đó vận hành ổn định và hiện đại - một trong những vấn đề có tính đột phá về chính sách phát triển văn hóa trong giai đoạn chuyển mình của dân tộc.

Song song đó, Nghị quyết 80 cũng xác định rõ với mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045, từ đó đã gián tiếp mở ra nhận thức trong lý luận về phát triển kinh tế sáng tạo.

Văn hóa không còn là “con nợ” của ngân sách, nó được kỳ vọng sẽ trở thành một “cổ đông” chiến lược đóng góp vào sự phồn vinh của đất nước, sự hưng thịnh của quốc gia, văn hóa không chỉ “tiêu tiền” mà còn mang lại những “lợi nhuận” bền vững.

Từ đó, khẳng định nhất quán văn hóa là động lực kinh tế thực chất và phát triển văn hóa là phương thức để giải phóng “sức sản xuất tinh thần”, góp phần tạo ra những giá trị to lớn cho xã hội.

Bài 1: Khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới - ảnh 4
Kinh tế lớn mạnh tạo nguồn lực chấn hưng văn hóa dân tộc và văn hóa phát triển để định hướng, là bệ phóng cho kinh tế quốc gia hội nhập mạnh mẽ cùng thời đại

Với việc gắn kết hữu cơ giữa thu và chi trong quan điểm phát triển văn hóa quốc gia hiện nay sẽ mở ra những tiền đề vững chắc để khẳng định về tính ưu việt của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là: Kinh tế lớn mạnh tạo nguồn lực chấn hưng văn hóa dân tộc và văn hóa phát triển để định hướng, là bệ phóng cho kinh tế quốc gia hội nhập mạnh mẽ cùng thời đại.

“Bộ mã nguồn bảo mật” trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trước bối cảnh bùng nổ của internet, mạng xã hội đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, sự “xâm lăng văn hóa” bằng các phương thức “mềm” diễn ra vô cùng tinh vi, khó nhận diện. Các thế lực “bên kia chiến tuyến” không còn ưu tiên cho những loa phóng thanh thô sơ, thay vào đó là gia tăng “cài cắm” những phiên bản “virus tư tưởng” thông qua phim ảnh, âm nhạc, các trào lưu lối sống cực đoan dáng dấp trời Tây.

Đây là lúc, những “mặt mạnh” của thế giới ảo, những “khoảng không” về tư tưởng trên không gian mạng được triệt để tận dụng để gieo rắc sự hoài nghi về truyền thống lịch sử của dân tộc, hạ thấp những giá trị, bản sắc, đề cao lối sống thực dụng, trào lưu “cấp tiến”, cổ xúy cho những hành vi đi ngược với lợi ích cộng đồng; tệ hại hơn là kích động các hoạt động chống Đảng, Nhà nước, chống chế độ.

Bài 1: Khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới - ảnh 5
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay không chỉ là việc “xây” bằng tuyên truyền mà phải là “chống” bằng cách chiếm lĩnh trận địa văn hóa

Với phương châm lấy “xây” để “chống”, Nghị quyết số 80 xác lập hệ giá trị con người Việt Nam với 8đức tính cốt lõi: Yêu nước - Đoàn kết - Tự cường - Nghĩa tình - Trung thực - Trách nhiệm - Kỷ cương - Sáng tạo.

Đây được xem “Bộ mã nguồn bảo mật” của “hệ điều hành” văn hóa của dân tộc, là vũ khí đề kháng mạnh mẽ trước xu hướng “sùng ngoại mù quáng” và sự “lệ thuộc” về tư tưởng, tạo đối trọng trực diện với sự “tự do vô lối” để gây rối loạn xã hội từ bên trong.

Đồng thời là “vắc-xin” đặc trị căn bệnh “sa sút” về đạo đức, lối sống, suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã và đang là một trong bốn nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay không chỉ là việc “xây” bằng tuyên truyền mà phải là “chống” bằng cách chiếm lĩnh trận địa văn hóa. Theo Nghị quyết số 80, Đảng ta ưu tiên cho chiến xây dựng “Bản sắc số” và chủ quyền văn hóa trên mạng xã hội. Bởi, khi chúng ta có những sản phẩm văn hóa thuần Việt chất lượng cao cũng chính là đã lập nên những “cột mốc chủ quyền” vững chãi trên không gian ảo.

Bốn “từ khoá chiến lược” để Nghị quyết sớm đi vào thực tiễn

Để Nghị quyết 80 thật sự đi vào thực tiễn, hòa cùng sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, đòi hỏi các nguồn lực phải được khơi thông, trong đó tập trung vào bốn vấn đề có tính nhân lõi, cụ thể:

100% cấp tỉnh/thành đủ bộ ba nhà hát, bảo tàng, trung tâm văn hóa lớn. Thể chế kinh tế văn hóa được khơi thông với luật hóa việc dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa.

Tổng vốn đầu tư công kỷ lục lên tới 122.250 tỉ đồng chính thức được kích hoạt cho giai đoạn I (2025–2030) của Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035.

Một là, đột phá trong xây dựng chính sách thông qua luật hóa những kết quả đánh giá tác động văn hóa.

Trong đó, khẩn trương thể chế hóa những quy định pháp luật theo hướng: Mọi dự án kinh tế - xã hội quy mô lớn đều phải qua thẩm định tác động văn hóa như đánh giá tác động môi trường; kiên quyết “nói không” với những dự án phá vỡ cấu trúc văn hóa truyền thống bất kể là những dự án, công trình, hạng mục ấy có nguồn lợi ích trước mắt lớn đến đâu. Đây là biểu hiện triệt để và ưu việt nhất trong thực thi vai trò “dẫn dắt” của văn hóa.

Hai là, chuyển đổi số toàn diện với mục tiêu 100% đơn vị nghệ thuật được chuyển đổi số đã được đề ra trong Nghị quyết 80.

Theo đó, cần xây dựng các hệ sinh thái số về lịch sử dân tộc, về những thành tựu chiến thắng lẫy lừng của Đảng dưới hình thức hiện đại từ nền tảng không gian số hay ở môi trường thực tế ảo.

Khi các sự kiện lịch sử được xuất hiện thường xuyên trên những giao diện hiện đại, những giá trị thuộc về truyền thống, bản sắc được lan truyền liên tục bằng những ngôn từ hấp dẫn sẽ làm gia tăng “vitamin tự hào” và bồi đắp “kháng thể” cần thiết cho cộng đồng, đặc biệt là thanh thiếu niên.

Ba là, ưu tiên nguồn lực được phân bổ trong phát triển văn hóa vào công tác đào tạo đội ngũ chuyên gia quản lý, nghiên cứu và phát triển văn hóa, để làm sao, văn hóa Việt Nam có một đội ngũ chuyên gia hoạch định chính sách phát triển văn hóa tinh thông; đội ngũ sáng tạo và truyền bá văn hóa kiên định về lập trường, vững vàng trong tư tưởng, nhiệt huyết với sự nghiệp cách mạng.

Đồng thời, chú trọng thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những “người gác đền” văn hóa tận tâm cống hiến, biến văn hóa trở thành một nghề cao quý và có vị thế xứng đáng trong xã hội.

Bài 1: Khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới - ảnh 6

Bốn là, khuyến khích công nghiệp văn hóa nhưng vẫn phải ưu tiên cho sự chặt chẽ trong quản lý, tuyên chiến mạnh mẽ với khuynh hướng “thương mại hóa” văn hóa, bài bác với những những nhìn nhận lệch lạc trong phát triển văn hóa.

Có kế sách ngăn chặn kịp thời, đẩy lùi hoàn toàn những hành vi “xâm lấn” văn hóa tâm linh, trục lợi cá nhân từ quản lý di sản hoặc hoạt động mê tín dị đoan làm vẩn đục môi trường văn hóa.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khi mỗi người dân Việt Nam mang trong mình “hệ điều hành văn hóa” tự cường, dân tộc ta sẽ có sức mạnh vô song để vượt qua mọi “giông bão” thời đại, để ở một tương lai gần nhất, Việt Nam hiên ngang sánh vai với các cường quốc bằng chính “cốt cách” của một dân tộc nghìn năm văn hiến.

(còn tiếp)