Đám cưới xưa đậm nét “tình làng, nghĩa xóm”
VHO - Đám cưới xưa không chỉ là ngày vui nhất trong cuộc đời con trai, con gái mà còn là dịp gắn kết cộng đồng, thắt chặt “tình làng nghĩa xóm”.

Mỗi khi nhận được tin báo hỷ sự thì già, trẻ, gái, trai đều tập trung phụ giúp, xem như “việc của nhà mình”, tạo nên nét đẹp văn hóa truyền thống ở vùng nông thôn Nam bộ.
Ở làng quê Nam bộ, đặc biệt là vùng sông nước miền Tây, việc tổ chức đám cưới phía đàng trai hay đàng gái đều diễn ra nhiều bước, nhiều lễ nghi, phong tục cầu kỳ, phức tạp, nhưng cũng rất đỗi thiêng liêng.
Từ khi bắt đầu lễ coi mắt đến kết thúc lễ cưới phải trải qua một thời gian dài, có khi cả năm trời. Trong xã hội phong kiến Việt Nam, nếu một trong hai họ có tang, nhất là tang cha, mẹ cô dâu hoặc chú rễ mất thì phải hoãn lễ cưới ngay lập tức đến khi mãn tang sau ba năm mới được cưới, gả.
Nói là ba năm nhưng thực tế chỉ có 24 tháng tròn, kể từ đám tang là năm thứ nhất, đám giáp năm là năm thứ hai, đám xả tang gọi là năm thứ ba.
Trong phạm vi bài viết này chỉ nói đến việc tổ chức đám cưới, lễ cưới sau năm 1975 đến trước năm 2000, nhất là thời bao cấp.
Khi đó, người dân còn khó khăn về đời sống vật chất, nhưng đời sống văn hóa tinh thần, các nghi lễ, tập tục truyền thống cơ bản nhất trong cưới xin vẫn được bảo tồn đến ngày hôm nay.

Lễ cưới chuẩn bị trước hơn một tháng
Trong tất cả các nghi lễ thì lễ cưới có quy mô lớn nhất, thiêng liêng nhất của hôn lễ và hai họ cần phải có nhiều thời gian chuẩn bị.
Hầu hết vật dụng chuẩn bị đám cưới của các gia đình đều tận dụng những gì có được tại nhà, tại khu vườn của mình.
Trước đám cưới hơn một tháng, việc đầu tiên là sửa lại nhà cửa tươm tất để gia đình không bị “lối xóm bà con” chê cười.
Cô dâu, chú rể mua sắm quần áo đẹp mặc trong những vui, còn trang phục trong hôn lễ (chú rể và cô dâu) thường là thuê, vì các loại y phục này chỉ mặc một lần, không ai bỏ tiền ra mua tốn kém, lãng phí.
Các thanh niên trong gia đình ra vườn, rẫy đốn cây tạp, chặt nhỏ, phơi khô làm củi trong hai, ba ngày tổ chức lễ cưới, nhất là đêm nhóm họ cần tiêu hao nhiều chất đốt chế biến thức ăn.
Trước một tuần, nhà trai đưa sang nhà gái một con heo từ 80 đến 100 kilogram và một ít tiền, gọi là “tiền chợ” để làm mâm cỗ đãi khách trong đám cưới bên nhà gái.
Tuy nhiên, trong thời hiện đại, tập tục “giao heo cho đàng gái” không còn nữa, hầu hết đều quy ra tiền rồi tổ chức một cái lễ nhỏ gọi là “nạp tài” cho tiện, nhanh, gọn, phù hợp với cuộc sống hiện đại.
Trong thời gian này, các cô, các chị trong xóm phụ giúp chủ nhà làm nhiều loại bánh đãi khách trong đêm nhóm họ và trong ngày lễ cưới chính.
Ở nông thôn, thời bao cấp phổ biến nhất là làm bánh kẹp cuốn (có người gọi bánh kẹp ống), bánh men, bánh gai.
Nhà nào khá giả hơn thì làm thêm một ít bánh khéo “cao cấp” hơn, như bánh bông lan, bánh ngọc nữ, các loại bánh có bắt bông đường rất đẹp mắt dành đãi khách đàng trai hoặc đàng gái và khách dự tiệc ngày chính, còn đêm nhóm họ chủ yếu là đãi bánh kẹp ống.
Đám cưới đông vui và được cả làng giúp việc
Ngày xưa, thanh niên nam nữ đến đám cưới không phải ăn tiệc, ca hát, vui chơi như ngày nay mà “nhiệm vụ” chủ yếu của họ là phụ giúp gia đình.
Ngày nhóm họ, nam thanh niên đến thật sớm, được chủ nhà “phân công” các nhóm, mỗi nhóm một việc khác nhau, như dựng rạp, trang trí rạp cưới, mượn bàn ghế hoặc các vật dụng mà gia đình không có hoặc có mà không đủ. Các chú trung niên (khoảng 40 - 45 tuổi) làm heo rất “chuyên nghiệp”.
Ngày nhóm họ, các cô gái tất bật lo chuyện cơm nước buổi trưa, buổi chiều cho các nhóm nam thanh niên để lo các công việc chuẩn bị, có gì ăn nấy.
Từ sáng sớm, già, trẻ, gái trai tụ họp mấy chục người, thậm chí cả trăm người để phụ giúp nên mấy cô gái cũng nhiều việc không kém nam thanh niên.
Khoảng 2-3 giờ chiều của ngày nhóm họ, các chú, các anh “xồn xồn” bắt đầu làm heo, thanh niên nam nữ làm gà vịt. Khi ra thịt xong thì các chú nhâm nhi với vài món như thố linh nướng, ruột nướng, phèo nướng…
Các cô gái được bà thợ nấu phân công mỗi người một việc như chặt thịt, thái thịt, lặt rau, cắt rau củ trang trí cù lao (lẩu), nấu hàng chục mâm đãi khách mất nhiều thời gian chế biến các món ăn.
Lúc này, khu vực chế biến mâm cỗ càng thêm nhộn nhịp, tiếng chặt thịt, bầm thịt lốp bốp hòa lẫn tiếng vui cười rộn rã của các bà, các cô, các chị…
Các cụ ông, cụ bà chừng 70, 80 tuổi đến đám cưới cũng không phải chỉ ngồi uống trà mà lúc nào cũng đi tới lui “giám sát” công việc của các nhóm thanh niên.
Ai thông thạo lễ nghĩa thì giúp chủ nhà hướng dẫn chú rể, cô dâu thực hiện các nghi lễ hoặc luyện tập cho chú rể lạy kiểu “nhất bộ nhất bái”, cách thượng đăng (lên đèn), rồi vị trí đứng trước buổi lễ, cách bưng bê khai trầu rượu như thế nào cho đúng, không khéo thì bị các cụ đàng gái phê bình là “có chuyện” không hay.
Các cụ bà chỉ dẫn cô dâu cách “thủ vai chính” trong lễ xuất giá, dạy cô dâu cách đi, đứng, nói năng khi về nhà chồng, nếu không dễ bị rầy la “con gái anh sui khờ dạy quá”.
Nhờ vậy, mà khi làm rể, làm dâu các cô chú ngày xưa rất chuẩn mực, từ đời này truyền sang đời khác cách dạy con như vậy, nên ít khi mắc lỗi lầm, trừ một số gia đình có những bà mẹ chồng hoặc chị chồng quá đỗi “khắt khe” thì cô dâu trẻ tuổi mười tám đôi mươi khó mà làm “đẹp dạ bên chồng”.

Chú rể “ám ảnh” nhất là lạy “nhất bộ nhất bái”
Trong đám cưới của người Việt, nhất là ở miền Tây Nam bộ, nghi thức làm lễ gia tiên là thiêng liêng nhất trong đám cưới, đặc biệt là nghi lễ bên đàng gái.
Trong ngày cưới thường diễn ra các lễ chính như: lễ rước dâu, lễ xuất giá, lễ trình với tổ tiên, dòng họ khi rước dâu về nhà trai. Tất cả các nghi lễ đó đều diễn ra trước bàn thờ gia tiên.
Trong khi cử hành hôn lễ, chú rể và cô dâu phải “lập song” (cùng nhau) lạy rất nhiều lạy trong một lễ, thường các chú rể sợ nhất là kiểu lạy “nhất bộ nhất bái”, bởi kiểu lạy này rất nhiều động tác, phải có thời gian tập luyện chứ không phải thấy là làm được.
Nhiều chú rể học cả tiếng đồng hồ, toát mồ hôi ướt áo cũng chưa chắc làm được, do đó nhiều chú rể “ám ảnh” lắm, rất may thời hiện đại này, hầu hết các gia đình nhà gái “chế” (bỏ qua) kiểu lạy này.
Đêm nhóm họ là “vui nhất”
Trong đám cưới, lễ chính diễn ra vào sáng ngày hôm sau, nhưng vui nhất vẫn là đêm nhóm họ, hoạt động này vẫn còn phổ biến trong các đám cưới ngày nay ở thành thị cũng như nông thôn, nhưng nhóm họ ở các vùng nông thôn là vui nhất, nhộn nhịp nhất.
Các cô, các bà, các chị em nữ được bà thợ nấu phân công phụ giúp chế biến mâm cỗ cho ngày hôm sau đãi khách và nồi cháo “khuya” thật ngon tiếp đãi quan khách, họ hàng đến dự nhóm họ.
Trước rạp cưới, bà con, láng giềng, bạn bè của cô dâu, chú rể đến chung vui, chủ yếu là “ăn” và “chơi”, vì vậy không thể thiếu các món ăn bình dị như nồi cháo với món rỏi thịt vịt hay thịt gà và đồ “nhắm” cho các cụ già, mấy chú trung niên, các nam thanh niên là những chai rượu trắng, gọi là rượu đế.
Đêm nhóm họ không thể thiếu “đờn ca tài tử” với các “nghệ nhân đờn, ca” là “cây nhà lá vườn”, cùng ca hát với nhau những bài ca vọng cổ, trích đoạn cải lượng hoặc tấu hài sôi động trong đêm nhóm họ.
Tất cả tài tử đờn, tài tử ca đến nhóm họ phục vụ cũng đều góp vui chứ không lấy tiền của gia chủ hay nhận bông (có tiền) như hiện nay.
Trong đêm nhóm họ, đàng trai cử một vài người, gọi lễ “thám tộc” đến nhà gái chơi trong giây lát, thực chất là họ “dò xét”, nắm thông tin “ở đây có làm đám cưới hay không” để về báo với ông trưởng tộc họ đàng trai.
Còn đàng gái thì tổ chức lễ xuất giá để cô dâu lạy ông bà, tổ tiên trước khi về nhà chồng….
Đám cưới xưa, không chỉ là câu chuyện về nghi lễ cưới xin mà còn là một phần ký ức đẹp của đời sống văn hóa Nam Bộ.
Trong những ngày vui ấy, người ta đến với nhau bằng sự chân tình, sẻ chia và tinh thần “việc của nhà mình”. Những phong tục, cách ứng xử và nghĩa tình cộng đồng ấy đã tạo nên nét đẹp riêng của làng quê miền Tây.
Mặc dù cuộc sống hôm nay đã đổi thay, nhiều nghi lễ không còn nguyên vẹn, nhưng tình làng, nghĩa xóm và những giá trị nhân văn của đám cưới xưa vẫn đáng được trân trọng, gìn giữ.

RSS