Xây dựng và phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc

TRUNG SƠN; ảnh TRẦN HUẤN - CTV

VHO - Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7.1.2026 về phát triển văn hoá Việt Nam với tầm nhìn xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển.

Xây dựng và phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc - ảnh 1
Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định tầm nhìn mới về văn hoá

Đây không chỉ là văn kiện chuyên đề về văn hoá mà còn là một bước phát triển trong tư duy lí luận của Đảng về vai trò của văn hoá trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đồng thời, đưa văn hoá vào quỹ đạo “sức mạnh mềm”, công nghiệp văn hoá, chuyển đổi số và cạnh tranh ảnh hưởng quốc tế trong giai đoạn mới, gắn với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045.

Văn hoá bước vào quỹ đạo chiến lược

Điểm then chốt của Nghị quyết 80-NQ/TW nằm ở việc khẳng định tầm nhìn mới về văn hoá: văn hoá vừa để hoàn thiện nhân cách con người và trở thành sức mạnh nội sinh, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Khi văn hoá được đặt ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội trong hoạch định chính sách, cơ hội xuất hiện ở bình diện thể chế, thị trường và tư duy.

Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, mỗi bước ngoặt phát triển đều gắn với sự định hướng của Đảng đối với văn hoá, từ kháng chiến, đổi mới đến hội nhập quốc tế.

Nghị quyết mới lần này chuyển văn hoá sang “tư duy sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh văn hoá của quốc gia”, nối văn hoá với công nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số, đối ngoại và thương hiệu quốc gia.

Đây là bước phát triển có tính chiến lược, văn hoá không đứng “hậu cần” cho kinh tế, mà trở thành một trong những động lực của tăng trưởng bền vững.

Điểm nghẽn lâu năm của văn hoá Việt Nam chính là thể chế chậm hơn thực tiễn, luật pháp thiếu tính kiến tạo, cơ chế tài chính chưa hấp dẫn, nguồn lực phát triển dàn trải và dựa nặng vào ngân sách nhà nước.

Nghị quyết 80-NQ/TW lần đầu tiên yêu cầu xây dựng hệ thống luật chuyên ngành (về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá), cơ chế tài chính đột phá, Bộ chỉ số văn hoá quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hoá đối với phát triển kinh tế theo chuẩn mực quốc tế.

Việc này mở ra hai cơ hội, hình thành thị trường văn hoá phát triển có quản lí, bảo đảm định hướng chính trị, giá trị văn hoá quốc gia và doanh nghiệp trở thành động lực sáng tạo. Khi tài sản văn hoá, tài nguyên văn hoá và di sản trở thành tài sản có định giá kinh tế, văn hoá không còn bó hẹp trong mô hình cũ.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái văn hoá sẽ hình thành cụm sáng tạo, trung tâm đổi mới và chuỗi giá trị, giúp Việt Nam bước vào không gian công nghiệp văn hoá và sáng tạo của thế giới. Đây là bước phát triển thể chế quan trọng. Khi thể chế mở đường, sáng tạo sẽ tự vận hành.

Xây dựng và phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc - ảnh 2
Nghị quyết 80-NQ/TW xác lập “bộ giá trị - con người - môi trường văn hoá” như một tổ hợp nền tảng để định hình chuẩn mực xã hội và năng lực phát triển quốc gia, củng cố sức mạnh nội sinh của dân tộc

Bảo đảm tầm nhìn dài hạn thay cho tư duy nhiệm kì

Bộ Chính trị đã nhìn văn hoá trong trục 20 - 50 năm, vượt khỏi “áp lực” nhiệm kì hành chính. Nghị quyết lần này đặt mục tiêu tới năm 2045 với chỉ tiêu định lượng rõ ràng về “sức mạnh mềm” quốc gia, công nghiệp văn hoá, thương hiệu và di sản.

Điều đó tạo sự ổn định và thống nhất chiến lược, thứ mà các nước phát triển sử dụng khi bứt phá văn hoá: Hàn Quốc với Hàn lưu (làn sóng văn hoá Hàn Quốc), Nhật Bản với chiến lược thương hiệu văn hoá quốc gia, Trung Quốc với công nghiệp nội dung số và xuất khẩu sản phẩm văn hoá.

Trong so sánh quốc tế, điểm quan trọng không nằm ở quy mô thị trường mà ở năng lực hoạch định và tổ chức thực thi chính sách văn hoá theo tầm nhìn quốc gia.

Tính ổn định chiến lược là cơ hội cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, nghệ sĩ, trường đào tạo và địa phương lập kế hoạch dài hạn…, điều mà văn hoá Việt Nam trước đây thiếu nghiêm trọng.

Một điểm tư tưởng đáng chú ý trong Nghị quyết 80-NQ/TW là xác lập “bộ giá trị - con người - môi trường văn hoá” như một tổ hợp nền tảng để định hình chuẩn mực xã hội và năng lực phát triển quốc gia, củng cố sức mạnh nội sinh của dân tộc.

Bộ giá trị quốc gia, giá trị văn hoá, giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống - hiện đại - quốc tế, phản ánh sự trưởng thành của tư duy lí luận về văn hoá của Đảng trong bối cảnh hội nhập sâu và cạnh tranh ảnh hưởng.

Việc kiến tạo môi trường văn hoá nhân văn, văn minh và hiện đại không chỉ nhằm sửa chữa các hiện tượng “lệch chuẩn” mà quan trọng hơn là khắc phục sự suy thoái văn hoá, đạo đức xã hội, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hoá.

Đồng thời, phát triển thị trường văn hoá với hệ thống công chúng văn hoá hiện đại -  yếu tố sống còn của công nghiệp sáng tạo.

Một xã hội có "khẩu vị" văn hoá được nâng cao sẽ kéo theo nhu cầu cho sách, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thời trang, nội dung số…, hình thành tầng lớp công chúng văn hoá và phát triển thị trường sáng tạo.

Ở bình diện quản trị xã hội, hệ giá trị và chuẩn mực con người xây dựng nền tảng cho “sức mạnh mềm” của quốc gia - một trong những thành tố quan trọng trong đánh giá năng lực cạnh tranh quốc tế hiện nay. Trong logic phát triển đó, văn hoá không đóng vai thụ động mà trở thành “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững.

Xây dựng và phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc - ảnh 3
Bảo tàng số tạo ra các trải nghiệm tương tác, thu hút khách

Chuyển đổi số và “chủ quyền văn hoá số”

Lần đầu tiên trong một nghị quyết về văn hoá, Đảng xác lập “chuyển đổi số” và “chủ quyền văn hoá số” như không gian phát triển chiến lược.

Đây là bước chuyển tư duy phù hợp với trật tự thế giới mới, nơi cạnh tranh ảnh hưởng diễn ra chủ yếu trên nền tảng số, thông qua công nghiệp nội dung, trò chơi điện tử, điện ảnh trực tuyến, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các cộng đồng sáng tạo xuyên biên giới.

Khi văn hoá dịch chuyển lên môi trường số, vấn đề không còn dừng ở bảo tồn hay quảng bá mà là xây dựng năng lực “sản xuất - phân phối - tiêu dùng - bảo vệ quyền sở hữu” trong một chuỗi giá trị mới.

“Chủ quyền văn hoá số” vì thế được hiểu là năng lực bảo vệ hệ giá trị và định vị hình ảnh quốc gia trong cạnh tranh thông tin, hình tượng và biểu tượng trên không gian số toàn cầu.

Đây cũng là lí do Đảng ta chỉ đạo xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hoá quốc gia, nền tảng số dùng chung, cơ chế bảo vệ bản quyền, tiêu chuẩn dữ liệu và thiết chế văn hoá số (bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số…).

Chuyển đổi số vừa tạo kênh thụ hưởng mới cho văn hoá vừa mở không gian thị trường sáng tạo, giúp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng công nghiệp văn hoá khu vực.

Xây dựng và phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc - ảnh 4
Nghị quyết 80 xác định hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hoá

Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược

Một điểm đáng chú ý trong Nghị quyết 80 là yêu cầu thể chế hoá đầy đủ, đồng bộ các quan điểm của Đảng thành hệ thống luật, cơ chế tài chính và bộ chỉ số đánh giá. Sự chuyển dịch từ “mục tiêu chính sách” sang “phương thức thực thi” là chìa khoá để đưa tư tưởng thành năng lực triển khai.

Thể chế hoá ở đây không chỉ dừng lại ở các luật mà bao gồm cả thiết kế cơ chế tài chính, xã hội hoá, ưu đãi thuế, định giá tài sản văn hoá, sở hữu trí tuệ, đấu thầu dịch vụ công, hợp tác công - tư và phân cấp quản lí.

Thậm chí, cho phép có chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hoá, triển khai mô hình lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lí tư; đầu tư tư - sử dụng công đối với một số thiết chế văn hoá, thể thao; khuyến khích mô hình bảo trợ văn hoá, nghệ thuật trên cơ sở đóng góp tự nguyện, phi lợi nhuận; phát huy vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội của tổ chức, cá nhân trong hệ sinh thái văn hoá.

Nghị quyết nêu rõ, “cho thực hiện thí điểm đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay để tạo đột phá cho văn hoá phát triển, nếu chưa có văn bản pháp luật quy định hoặc có quy định khác”.

Nếu những mắt xích này được mở thông, văn hoá sẽ có điều kiện bước vào thị trường một cách lành mạnh, hình thành doanh nghiệp văn hoá - sáng tạo và thu hút đầu tư.

Luật hoá giúp xác lập “khung chơi”, còn bộ chỉ số giúp đo lường đóng góp của văn hoá trong GDP, việc làm, xuất khẩu và sức mạnh mềm. Đây là một chuyển động tư duy quan trọng: văn hoá không còn là “chi tiêu công” mà là “đầu tư phát triển”.

Đó cũng là điều kiện để hoạch định ngân sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả chính sách.

Xây dựng và phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc - ảnh 5
Ngoại giao văn hoá trở thành cầu nối du lịch và định vị thương hiệu quốc gia

Ngoại giao văn hoá và thương hiệu quốc gia

Nghị quyết đặt văn hoá vào ngoại giao cấp cao, liên kết với thương mại và du lịch, mở ra cơ hội xây dựng thương hiệu quốc gia, mở rộng thị trường sản phẩm sáng tạo, ghi danh di sản, đăng cai sự kiện quốc tế và gia tăng sức mạnh mềm Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Các quốc gia có địa chính trị mở như Việt Nam thường sở hữu lợi thế cạnh tranh đặc biệt khi chuyển văn hoá thành công cụ “định vị quốc gia”.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả Nghị quyết 80-NQ/TW trong thực tiễn, cần vượt qua các thách thức về thể chế, nhân lực và thị trường. Về thể chế, hệ thống luật chuyên ngành, cơ chế tài chính, bộ chỉ số và phân cấp quản lí chưa được hoàn thiện đồng bộ và chưa tạo đầy đủ điều kiện triển khai.

Về nhân lực, đội ngũ chuyên gia, nghệ sĩ tài năng, kĩ sư sáng tạo và nhân lực nội dung số chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp văn hoá và chuyển đổi số. Về thị trường, tiêu dùng văn hoá, mô hình kinh doanh sáng tạo và doanh nghiệp dẫn dắt chưa phát triển tương xứng, thiếu khả năng tạo lập chuỗi giá trị và lan toả xã hội.

Những hạn chế này chỉ có thể được khắc phục bằng sự lãnh đạo của Đảng, quản lí của Nhà nước, sự tham gia của doanh nghiệp và sự hưởng ứng của nhân dân.

Nghị quyết đã nhận diện những khoảng trống này và đề xuất cơ chế bù đắp thông qua đào tạo đặc thù, hợp tác công - tư, chuyển đổi số, đầu tư hạ tầng dữ liệu và xây dựng doanh nghiệp đầu tàu.

Việc nhận diện đúng các thách thức là điều kiện để thiết kế giải pháp và tổ chức thực thi chính sách văn hoá hiệu quả.

Có thể thấy, Nghị quyết 80-NQ/TW đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về văn hoá. Từ trụ cột tinh thần sang sức mạnh nội sinh, từ bảo tồn sang đổi mới sáng tạo, từ phân tán sang hệ sinh thái, từ tiêu dùng thụ động sang thị trường sáng tạo, từ quảng bá sang cạnh tranh ảnh hưởng và từ nền tảng sang hệ điều tiết cho phát triển bền vững.

Để những chuyển động tư tưởng ấy đi vào thực tiễn, cần khẳng định rõ vai trò Đảng lãnh đạo, Nhà nước thể chế hoá, hệ thống chính trị tổ chức thực hiện, doanh nghiệp và đội ngũ sáng tạo đầu tư và đổi mới, nhân dân thụ hưởng và đồng sáng tạo.

Khi cấu trúc này vận hành hiệu lực, hiệu quả, văn hoá sẽ trở thành “sức mạnh mềm”, năng lực cạnh tranh và động lực phát triển trong tầm nhìn quốc gia đến năm 2045, đóng góp vào mục tiêu xây dựng Việt Nam phát triển, có bản sắc, uy tín và vị thế trong khu vực và thế giới.