Trọng dụng nhân tài, thước đo văn hóa lãnh đạo

TS PHAN THANH HẢI

VHO - Trong cuộc cạnh tranh phát triển, sức mạnh một quốc gia được đo bằng khả năng đánh thức trí tuệ, quy tụ tài năng và chuyển hóa khát vọng cống hiến thành những giá trị phục vụ nhân dân. Bởi vậy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15.10.2026 của BCH Trung ương Đảng về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, thể chế và văn hóa dùng người, với trọng dụng là khâu then chốt.

 Nhìn thẳng vào thực tiễn, Trung ương ghi nhận những kết quả trong hoàn thiện chính sách, phát triển đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, đồng thời chỉ rõ nhận thức chưa thống nhất, quản lý còn nặng thủ tục, cơ chế phân tán, thiếu liên thông. Đáng suy ngẫm là chính sách thời gian qua chủ yếu tập trung vào thu hút, tuyển dụng và đãi ngộ ban đầu, trong khi bố trí, sử dụng và trọng dụng chưa tương xứng; nghĩa là có những nguồn lực trí tuệ đã được tìm thấy nhưng chưa được phát huy.

Đằng sau hạn chế ấy là câu chuyện về chất lượng quản trị: Người giỏi khó tạo đột phá nếu phải làm việc dưới tầm, bị ràng buộc bởi thủ tục hoặc thiếu thẩm quyền, nguồn lực để thực hiện ý tưởng. Khi tài năng không có cơ hội chuyển thành sản phẩm, thiệt thòi thuộc về cả tổ chức và xã hội; mất mát lớn hơn khoản đầu tư đào tạo còn là sự suy giảm niềm tin rằng năng lực và cống hiến sẽ được nhìn nhận công bằng, được nâng đỡ bằng trách nhiệm.

Nhận định nguyên nhân chủ yếu nằm ở nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu mang ý nghĩa sâu sắc, bởi cơ chế dù tiến bộ đến đâu vẫn cần những con người đủ công tâm để thực hiện. Một người lãnh đạo coi sự trưởng thành của cộng sự là thành công của tổ chức sẽ biết tìm người vượt mình về chuyên môn, biết lắng nghe điều khác biệt và tạo cơ hội cho tài năng được kiểm chứng trong những nhiệm vụ khó. Tinh thần ấy có cội nguồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khi ngay giữa những thử thách của chính quyền cách mạng non trẻ, Người đã đặt việc tìm kiếm người tài đức trong yêu cầu kiến thiết quốc gia.

Trong bài “Tìm người tài đức”, đăng Báo Cứu quốc ngày 20.11.1946, Người khẳng định: “Kiến thiết cần phải có nhân tài”, đồng thời thẳng thắn nhận khuyết điểm vì Chính phủ chưa nghe, chưa thấy đầy đủ, khiến những người tài đức chưa có điều kiện xuất thân; đó là thái độ cầu hiền gắn với trách nhiệm. Sự khiêm nhường của người đứng đầu mở ra một chuẩn mực lớn: Muốn quy tụ hiền tài, trước hết phải nhận ra giới hạn, chủ động tìm đến những năng lực đang hiện diện. Từ việc trân trọng, mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ có thể thấy tấm lòng rộng mở và cách dùng người lấy lợi ích dân tộc làm điểm quy tụ, để khác biệt không ngăn cản sự đồng tâm phụng sự đất nước, để niềm tin trở thành nguồn sức mạnh chung.

Kế thừa tinh thần đó, Kết luận xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt, yêu cầu chuyển từ quản lý con người theo tổ chức, biên chế sang quản trị và phát triển nhân tài, lấy sản phẩm, kết quả, giá trị cống hiến làm thước đo. Đây là yêu cầu thay đổi cách nhìn và cách làm, bởi bằng cấp, học vị, chức vụ hay thâm niên không thể thay thế năng lực thực tế; giá trị người tài phải được nhận diện trong khả năng giải quyết vấn đề và dẫn dắt phát triển.

Trọng dụng, theo đó, phải được thực hiện bằng bố trí đúng sở trường, giao nhiệm vụ xứng tầm, trao quyền tự chủ thực chất và bảo đảm điều kiện làm việc, để trách nhiệm luôn đi cùng thẩm quyền và nguồn lực. Khi đã đặt hàng sáng tạo, tổ chức cần chấp nhận rủi ro có kiểm soát, phân biệt thất bại khách quan với thiếu trách nhiệm, gian lận, vụ lợi; nếu mọi thử nghiệm đều bị đánh giá bằng tâm lý sợ sai, những con đường mới sẽ khó có người dấn bước khai mở.

Đối với lĩnh vực văn hóa, tinh thần trọng dụng nhân tài càng cần được thấm sâu vào cách phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ sáng tạo, nghiên cứu, bảo tồn, quản lý. Một tác phẩm có sức sống, một phương pháp bảo tồn hiệu quả hay một mô hình phát huy di sản có giá trị thường đòi hỏi quá trình tích lũy dài lâu, vì vậy việc đánh giá phải tôn trọng đặc thù nghề nghiệp, coi trọng chất lượng và tác động xã hội, tránh áp đặt những thước đo hành chính giản đơn.

Văn hóa trọng dụng nhân tài còn được thử thách trong ứng xử hằng ngày, khi những ý kiến phản biện được lắng nghe, những người trẻ được giao đúng việc, và những thành công được ghi nhận đúng người. Bởi thế, yêu cầu khắc phục cào bằng, cục bộ, khép kín, đố kỵ, cô lập và sợ người giỏi cần trở thành hành động trong từng cơ quan; môi trường dân chủ, minh bạch, liêm chính chính là điều kiện để người tài yên tâm cống hiến và tổ chức liên tục tự đổi mới.

Chính sách vượt trội dành cho nhân tài phải đi cùng tiêu chí công khai, đánh giá thực chất và trách nhiệm giải trình, để sự ưu tiên tạo ra giá trị chung, không bị biến thành đặc quyền. Đồng thời, phải kiên trì tạo nguồn trong nước, kết nối trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, xây dựng những quan hệ hợp tác mà ở đó tri thức được chia sẻ, thế hệ sau được dìu dắt, năng lực quốc gia được bồi đắp qua từng nhiệm vụ cụ thể.

Từ lời cầu hiền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến yêu cầu đổi mới quản trị nhân tài hôm nay, mạch nguồn xuyên suốt là trân trọng con người, tin vào trí tuệ và đặt lợi ích đất nước lên trên. Chủ trương ấy chỉ đi vào cuộc sống khi mỗi người đứng đầu biết biến lòng trọng thị thành cơ hội cống hiến, biến sự tin cậy thành quyền hạn và điều kiện làm việc, để tài năng được phát triển cùng trách nhiệm, để hiền tài có thể đem hết tâm sức phụng sự nhân dân.