Luật phát triển công nghiệp văn hóa - Mở khóa nguồn lực, kiến tạo động lực mới:

Kỳ 1 - Công nghiệp văn hóa không thể lớn lên trong những khoảng trống thể chế

DUY PHONG

VHO - LTS: Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang đặt ra nhiều câu hỏi từ thực tiễn: Chính sách cần thay đổi ra sao, những điểm nghẽn nào cần tháo gỡ và đâu là điều kiện để các ngành công nghiệp vă hóa có thể đi đường dài? Từ số báo này, Văn Hóa khởi đăng loạt bài “Luật Phát triển công nghiệp văn hóa - Mở khóa nguồn lực, kiến tạo động lực mới”, tiếp cận vấn đề từ thể chế, đầu tư, tài sản trí tuệ đến thị trường và các chủ thể sáng tạo; mong góp thêm tiếng nói từ thực tiễn vào quá trình xây dựng một đạo luật đang nhận được nhiều kỳ vọng.

Công nghiệp văn hóa Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý: Nguồn tài nguyên văn hóa dồi dào, sức sáng tạo xã hội mạnh mẽ, thị trường rộng và công nghệ mở ra những cơ hội chưa từng có, nhưng khả năng chuyển hóa các lợi thế ấy thành sản phẩm, tài sản, doanh nghiệp và sức cạnh tranh quốc gia vẫn chưa tương xứng. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không đơn thuần là bổ sung thêm một đạo luật trong lĩnh vực văn hóa, mà là yêu cầu kiến tạo một hành lang thể chế đủ mạnh để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển.

Kỳ 1 - Công nghiệp văn hóa không thể lớn lên trong những khoảng trống thể chế - ảnh 1
Festival Huế cho thấy khả năng kết nối di sản, nghệ thuật biểu diễn và du lịch trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Ảnh: Cổng Thông tin điện tử Bộ VHTTDL

Tiềm năng lớn nhưng giá trị tạo ra chưa tương xứng

Không nhiều quốc gia có trong tay một nguồn “nguyên liệu” văn hóa phong phú như Việt Nam. Hàng nghìn năm lịch sử để lại một kho tàng di sản vật thể và phi vật thể đa dạng; ẩm thực, làng nghề, âm nhạc, mỹ thuật, kiến trúc, trang phục, lễ hội, văn học dân gian, cảnh quan, tập quán và bản sắc của các cộng đồng dân tộc tạo nên một nguồn tài nguyên gần như vô tận cho sáng tạo. Cùng với đó là thị trường hơn một trăm triệu dân, một thế hệ trẻ nhanh nhạy với công nghệ, đội ngũ nghệ sĩ, nhà thiết kế, kỹ sư công nghệ, nhà làm phim, nhà sản xuất nội dung đang từng bước tiếp cận thị trường toàn cầu.

Những năm gần đây, có thể nhìn thấy sức bật ấy qua điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, các chương trình biểu diễn quy mô lớn, thiết kế, thời trang, thủ công mỹ nghệ, du lịch gắn với di sản và sự phát triển bùng nổ của nội dung số. Một bộ phim có thể kéo khán giả tới địa điểm quay. Một ca khúc có thể đưa hình ảnh đất nước đến hàng chục triệu người. Một sản phẩm thủ công khi được thiết kế lại có thể tăng giá trị nhiều lần. Một nhân vật trong game hay hoạt hình có thể phát triển thành cả hệ sinh thái hàng hóa, dịch vụ. Văn hóa, khi đi qua sáng tạo, công nghệ, thị trường và tài sản trí tuệ, bên cạnh việc tạo ra giá trị tinh thần còn có thể tạo việc làm, doanh thu, thuế, xuất khẩu và sức mạnh mềm.

Nhưng nếu nhìn sâu vào chuỗi giá trị, khoảng cách giữa tiềm năng và năng lực thương mại hóa vẫn còn khá lớn. Nhiều giá trị văn hóa mới dừng ở mức khai thác trực tiếp, chưa được phát triển thành những tài sản trí tuệ có vòng đời dài. Không ít sản phẩm gây tiếng vang nhưng khó kéo dài thành thương hiệu, nhiều nhà sáng tạo thành công theo từng dự án nhưng chưa hình thành doanh nghiệp đủ mạnh. Một số địa phương sở hữu tài nguyên văn hóa đặc sắc nhưng vẫn chủ yếu “bán vé tham quan” thay vì tạo ra một hệ sinh thái trải nghiệm, biểu diễn, thiết kế, quà tặng, nội dung số và dịch vụ đi kèm.

Điểm đáng chú ý trong dự thảo Luật là công nghiệp văn hóa được nhìn nhận như một hệ thống các hoạt động kinh tế nhằm phát huy tài nguyên văn hóa, kết hợp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ để tạo ra đồng thời giá trị kinh tế và xã hội, đóng góp cho phát triển con người, bảo tồn bản sắc và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Chuỗi giá trị cũng được xác định từ sáng tạo, phát triển, sản xuất đến phân phối, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng và tái đầu tư. Đó là một thay đổi rất đáng chú ý về cách nhìn. Bởi muốn phát triển công nghiệp văn hóa thì trước hết phải nhìn văn hóa trong toàn bộ một chuỗi kinh tế, thay vì dừng ở khâu sáng tạo ra tác phẩm.

Khi một chuỗi giá trị phải đi qua quá nhiều “mảnh luật”

Vấn đề là một sản phẩm công nghiệp văn hóa hiện đại thường không nằm gọn trong phạm vi một lĩnh vực. Một bộ phim liên quan đến nghệ thuật, đầu tư, thuế, đất đai, sở hữu trí tuệ, tài chính, công nghệ, quảng cáo, phân phối và hợp tác quốc tế. Một trò chơi điện tử có yếu tố văn hóa lại đồng thời là sản phẩm công nghệ, tài sản trí tuệ, hàng hóa số và sản phẩm xuất khẩu. Một khu sáng tạo có thể liên quan tới quy hoạch, xây dựng, tài sản công, đất đai, đầu tư, phòng cháy, chữa cháy, biểu diễn, thương mại và du lịch.

Trong khi thực tiễn vận hành theo chuỗi, hệ thống chính sách lại thường được thiết kế theo từng ngành quản lý. Điều này không có nghĩa các luật chuyên ngành là không cần thiết, mà cho thấy còn thiếu một “trục kết nối” đủ mạnh để những quy định về đầu tư, tài chính, đất đai, sở hữu trí tuệ, công nghệ, nhân lực và thị trường cùng hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa. Khoảng trống ấy biểu hiện rất cụ thể. Người sáng tạo sở hữu bản quyền nhưng khó biến bản quyền thành tài sản bảo đảm để vay vốn. Một công trình công cộng có tiềm năng chuyển đổi thành không gian sáng tạo nhưng vướng cơ chế khai thác tài sản. Doanh nghiệp muốn đầu tư vào một dự án có rủi ro sáng tạo cao nhưng thiếu công cụ chia sẻ rủi ro. Mô hình kinh doanh mới ra đời nhanh hơn quy định pháp luật. Sản phẩm làm ra có thể tốt nhưng lại thiếu mạng lưới phân phối, xúc tiến và cơ chế hỗ trợ đi ra thị trường quốc tế.

Chính vì vậy, một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo Luật là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh doanh, sản phẩm và giải pháp công nghệ mới khi pháp luật chưa điều chỉnh hoặc chưa theo kịp thực tiễn. Thay vì chờ một mô hình mới trở nên phổ biến rồi mới xây dựng quy định, sandbox cho phép thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và điều kiện được kiểm soát, đi cùng yêu cầu quản lý rủi ro và bảo vệ quyền lợi của các bên. Nếu được thiết kế tốt, đây vừa là một cơ chế mới, vừa là sự thay đổi quan trọng trong triết lý quản lý: Pháp luật không đứng ngoài quan sát đổi mới sáng tạo mà đi cùng quá trình thử nghiệm để vừa kiểm soát rủi ro, vừa mở đường cho cái mới.

Luật phải là “đường băng”, không phải thêm một tầng thủ tục

Sự cần thiết của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế không nằm ở số lượng điều khoản mà ở khả năng giải quyết được những vấn đề mà hệ thống hiện hành chưa xử lý trọn vẹn. Một đạo luật đúng nghĩa kiến tạo phải trả lời được những câu hỏi rất thực tế: Người sáng tạo lấy vốn ở đâu; tài sản trí tuệ được định giá thế nào; doanh nghiệp nào được khuyến khích đầu tư; khu vực tư nhân tham gia tới đâu; tài sản công được khai thác thế nào; những mô hình sáng tạo mới được thử nghiệm ra sao; sản phẩm Việt đi ra thế giới bằng con đường nào.

Dự thảo cho thấy một hướng tiếp cận khá toàn diện khi đồng thời đề cập hạ tầng, nhân lực, tài sản trí tuệ, thị trường, tài chính, tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, thương hiệu quốc gia và chính sách xuất khẩu. Đáng chú ý, Nhà nước được xác định giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt, trong khi khu vực tư nhân, cộng đồng và hợp tác công - tư được khuyến khích cùng tham gia đầu tư, quản lý và khai thác hạ tầng.

Tư duy ấy cần được giữ xuyên suốt khi hoàn thiện Luật. Bởi nếu sau cùng các cơ chế ưu đãi vẫn phải đi qua quá nhiều tầng xin - cho, sandbox lại thêm một quy trình cấp phép, tài sản trí tuệ vẫn chỉ được “ghi nhận” mà ngân hàng không thể cho vay, các khu sáng tạo có tên gọi mới nhưng vận hành theo cách cũ thì một đạo luật đầy tham vọng cũng khó tạo nên thay đổi thực chất.

Công nghiệp văn hóa khác nhiều ngành kinh tế truyền thống ở chỗ tài sản lớn nhất nhiều khi không phải đất đai hay nhà xưởng mà là ý tưởng, trí tuệ, tài năng và khả năng tạo ra những giá trị chưa từng tồn tại. Vì vậy, thể chế cũng phải có năng lực chấp nhận một mức độ rủi ro hợp lý của sáng tạo. Nhà nước không thể sáng tạo thay nghệ sĩ và càng không thể làm thị trường thay doanh nghiệp, nhưng Nhà nước có thể kiến tạo một môi trường mà ở đó sáng tạo có cơ hội thành sản phẩm, sản phẩm có cơ hội thành tài sản và tài sản có cơ hội bước vào thị trường.

Nếu làm được điều đó, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ không phải là thêm một lớp quản lý đối với văn hóa. Nó sẽ là “đường băng” để nguồn lực văn hóa Việt Nam cất cánh.

(Còn tiếp)