Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải mở đường để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển
VHO - Đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng kỳ vọng, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải thực sự là một “luật kiến tạo”, không làm tăng thêm rào cản hành chính mà phải mở không gian sáng tạo, hình thành thị trường và khơi thông nguồn lực.
Phát triển công nghiệp văn hóa không đơn thuần là tìm thêm nguồn thu từ văn hóa, mà là mở ra một động lực tăng trưởng mới dựa trên trí tuệ, sáng tạo, công nghệ và bản sắc Việt Nam.
Trao đổi với Văn Hóa về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ VHTTDL chủ trì xây dựng, đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa) cho rằng, Luật phải thực sự mang tinh thần kiến tạo: tháo điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực, hình thành thị trường và đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển”
PV: Thưa đại biểu, Bộ VHTTDL đang chủ trì xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, kiến tạo thị trường và biến các giá trị văn hóa, sáng tạo thành nguồn lực phát triển. Theo đại biểu, việc xây dựng Luật có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
- ĐBQH Bùi Văn Dũng: Theo tôi, muốn thấy hết ý nghĩa của dự án Luật này, trước hết phải đặt nó trong “một chuyển đổi rất quan trọng về tư duy phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta hiện nay”.
Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu “từng bước chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển”, phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của Nhân dân, khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng tham gia và huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển văn hóa. Tôi cho rằng đây chính là một tư tưởng rất quan trọng để tiếp cận dự án Luật này.
Kiến tạo phát triển có nghĩa là Nhà nước không chỉ quản lý hoạt động văn hóa mà quan trọng hơn là “tạo thể chế, môi trường, hạ tầng và thị trường để sức sáng tạo được giải phóng, tài nguyên văn hóa được chuyển hóa thành tài sản trí tuệ, sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế”.
Điều đó càng có ý nghĩa khi Đại hội XIV đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên.
Muốn đạt mục tiêu này một cách bền vững, chúng ta không thể chỉ khai thác sâu hơn những động lực truyền thống mà phải đánh thức và phát huy mạnh mẽ các nguồn lực mới, trong đó có văn hóa, con người và sức sáng tạo.
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam vừa được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế về công nghiệp văn hóa. Hồ sơ dự án Luật cũng xác định rõ trách nhiệm xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này.
Theo tôi, chúng ta đang đứng trước một nghịch lý: “Việt Nam rất giàu tài nguyên văn hóa, nhưng giá trị kinh tế tạo ra từ tài nguyên văn hóa vẫn chưa tương xứng”.
Chúng ta có lịch sử hàng nghìn năm, hệ thống di sản phong phú, nghệ thuật, ẩm thực, làng nghề, cảnh quan và đặc biệt là sức sáng tạo rất lớn của con người Việt Nam. Nhưng để nối được chuỗi “tài nguyên văn hóa - sáng tạo - tài sản trí tuệ - sản phẩm - thị trường - thương hiệu”, vẫn còn không ít điểm nghẽn.
Vì vậy, tôi kỳ vọng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa lần này phải thực sự là một “luật kiến tạo”, không làm tăng thêm rào cản hành chính mà phải mở không gian sáng tạo, hình thành thị trường và khơi thông nguồn lực.
Nếu trước đây chúng ta thường nói “đầu tư cho văn hóa”, thì trong giai đoạn phát triển mới phải đồng thời đặt vấn đề “đầu tư vào văn hóa để tạo ra phát triển”.
Công nghiệp văn hóa – một động lực mới cho tăng trưởng hai con số
Dự thảo Luật tiếp cận công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế chiến lược theo chuỗi giá trị. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, công nghiệp văn hóa có thể đóng góp như thế nào?
Tôi cho rằng đây là một trong những dư địa tăng trưởng rất đáng chú ý.
Điểm đặc biệt của công nghiệp văn hóa là “đầu vào quan trọng nhất không phải tài nguyên hữu hạn, mà là trí tuệ, tài năng, công nghệ và sức sáng tạo của con người”.
Một nguồn tài nguyên vật chất khai thác rồi sẽ cạn dần, nhưng một câu chuyện hay, một nhân vật, một di sản, một tác phẩm nghệ thuật có thể liên tục tạo ra những giá trị mới.
Một câu chuyện lịch sử có thể trở thành sách, phim, âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế, sản phẩm lưu niệm và tour du lịch.
Một di sản nếu được bảo tồn tốt, số hóa, kể lại bằng công nghệ và kết nối với du lịch, điện ảnh, nghệ thuật, thiết kế thì có thể hình thành cả một chuỗi giá trị.

Theo tôi, công nghiệp văn hóa có thể đóng góp cho tăng trưởng trên ba phương diện.
Thứ nhất, trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, doanh nghiệp và việc làm mới trong điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, game, quảng cáo, thiết kế, thủ công mỹ nghệ, xuất bản, truyền thông và nội dung số. Đây đều là những ngành kết hợp văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, tạo hiệu ứng lan tỏa rất lớn. Một bộ phim thành công có thể thúc đẩy du lịch; một lễ hội hấp dẫn có thể kích thích vận tải, lưu trú, ẩm thực, thương mại; một sản phẩm làng nghề nếu được thiết kế và xây dựng thương hiệu tốt có thể từ thị trường địa phương bước ra thị trường toàn cầu.
Thứ ba, công nghiệp văn hóa tạo ra một giá trị vượt ra ngoài những con số GDP, đó là thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia. Khi một bộ phim, bài hát, trò chơi, sản phẩm thiết kế của Việt Nam được thế giới đón nhận, chúng ta không chỉ xuất khẩu một sản phẩm mà còn lan tỏa “hình ảnh, câu chuyện và giá trị Việt Nam”.
Bởi vậy, công nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận như một động lực tăng trưởng mới dựa trên năng suất, trí tuệ và sáng tạo, rất phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng mà Đại hội XIV đặt ra.
Nhưng cũng cần rất rõ một nguyên tắc: phát triển công nghiệp văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá. Kinh tế phải góp phần làm giàu thêm cho văn hóa; văn hóa phải tạo chiều sâu, bản sắc và tính bền vững cho kinh tế. Đó mới là tăng trưởng có chất lượng.
Chính sách phải đủ mạnh để biến tiềm năng thành thị trường
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa yêu cầu Luật cần có chính sách đặc thù, vượt trội, tạo khung thu hút nguồn lực, ưu đãi đầu tư cho hạ tầng văn hóa số, công nghệ cao và một số lĩnh vực trọng tâm. Theo đại biểu, những chính sách cụ thể nào cần được đặt ra?
Tôi cho rằng đây chính là “đề bài” rất rõ đối với cơ quan soạn thảo.
Ngày 19.8.2026, khi làm việc với Bộ VHTTDL, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cạnh tranh công nghiệp văn hóa không chỉ là cạnh tranh kinh tế mà còn là “cạnh tranh về sức mạnh mềm”, vì vậy Việt Nam phải có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc thù, vượt trội để có khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác.
Theo tôi, muốn hiện thực hóa yêu cầu đó, Luật cần tạo đột phá ở bốn điểm.
Thứ nhất, biến tài sản trí tuệ thành tài sản kinh tế thực sự. Trong công nghiệp văn hóa, tài sản lớn nhất nhiều khi không phải nhà xưởng hay đất đai mà là bản quyền, kịch bản, nhân vật, thương hiệu, thiết kế, phần mềm.
Luật phải mở đường cho việc định danh, định giá, giao dịch, góp vốn và sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm để tiếp cận tín dụng. Dự thảo đã đi theo hướng này, kể cả cơ chế quản lý và chia sẻ rủi ro tín dụng; đây là điểm cần tiếp tục hoàn thiện để thực sự khả thi.

Cạnh tranh công nghiệp văn hóa không chỉ là cạnh tranh kinh tế mà còn là “cạnh tranh về sức mạnh mềm" quốc gia
Thứ hai, chuyển từ “cấp tiền” sang “kiến tạo và dẫn dắt nguồn lực”. Ngân sách nhà nước cần tập trung vào những việc thị trường khó tự làm như dữ liệu văn hóa, số hóa di sản, hạ tầng sáng tạo dùng chung, đào tạo nhân lực và một số sản phẩm trọng điểm; đồng thời sử dụng nguồn lực nhà nước như “vốn mồi” để thu hút đầu tư xã hội thông qua hợp tác công tư, bảo lãnh tín dụng, đồng đầu tư và các quỹ phù hợp.
Dự thảo đã đề xuất cơ chế đồng đầu tư và chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân. Đây là hướng rất đáng nghiên cứu.
Thứ ba, coi dữ liệu văn hóa và hạ tầng văn hóa số là hạ tầng phát triển mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã yêu cầu coi dữ liệu lịch sử, văn hóa, di sản là bộ phận cốt lõi của hạ tầng văn hóa quốc gia và xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia thống nhất, liên thông.
Theo tôi, dữ liệu không thể chỉ được số hóa để “cất giữ”. Trên cơ sở bảo đảm bản quyền, an ninh và lợi ích quốc gia, dữ liệu phải trở thành “nguyên liệu cho sáng tạo mới” trong điện ảnh, game, thiết kế, giáo dục, du lịch, AI và các sản phẩm số.
Thứ tư, chính sách phải có trọng tâm, trọng điểm và có lộ trình thực hiện, không dàn đều. Cần lựa chọn một số lĩnh vực Việt Nam có lợi thế, có thị trường và khả năng vươn ra quốc tế để tập trung nguồn lực, qua đó hình thành sản phẩm chủ lực, tài sản trí tuệ Việt Nam, doanh nghiệp dẫn dắt và thương hiệu văn hóa quốc gia.
Tôi cho rằng tinh thần của đạo luật có thể cô đọng trong một công thức: Nhà nước kiến tạo – doanh nghiệp tổ chức thị trường – người dân, nghệ sĩ là chủ thể sáng tạo – công nghệ tạo sức bật – bản sắc Việt Nam tạo lợi thế cạnh tranh.
Nếu Luật giải quyết được những mắt xích “thể chế – tài sản trí tuệ – vốn – công nghệ – thị trường”, chúng ta có cơ sở để đưa công nghiệp văn hóa từ một lĩnh vực giàu tiềm năng trở thành một động lực phát triển thực sự.
Và đích đến cuối cùng không chỉ là công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu phần trăm GDP, mà cao hơn là “biến sức sáng tạo của người Việt Nam thành tài sản, biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực phát triển và biến bản sắc Việt Nam thành lợi thế cạnh tranh, thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”.
Xin cảm ơn đại biểu!

RSS