Đưa văn hóa các dân tộc thiểu số thành nguồn lực phát triển bền vững
VHO - Đến năm 2035, 100% giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu đủ điều kiện được số hóa; 150 điểm đến du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi được hỗ trợ nâng cao chất lượng; mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất một sản phẩm hoặc thương hiệu văn hóa đặc trưng. Đây là những mục tiêu được đặt ra trong Đề án vừa được Bộ VHTTDL phê duyệt.

Bộ VHTTDL vừa ban hành Quyết định số 2345/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với du lịch và phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới”.
Đề án được triển khai trên phạm vi cả nước, tập trung tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo, địa bàn khó khăn và những cộng đồng có giá trị văn hóa tiêu biểu hoặc đứng trước nguy cơ mai một.
Cộng đồng giữ vai trò chủ thể
Điểm cốt lõi của Đề án là chuyển từ bảo tồn thụ động sang bảo tồn gắn với thực hành, truyền dạy và phát huy giá trị. Văn hóa truyền thống được đặt trong đời sống đương đại, kết nối với du lịch cộng đồng, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và thị trường để tạo việc làm, sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân.
Đề án xác định bảo tồn là nền tảng, phát huy giá trị là mục tiêu; cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và hỗ trợ. Việc phục hồi, phục dựng các giá trị văn hóa phải dựa trên tư liệu đáng tin cậy, nhu cầu thực hành và sự đồng thuận của cộng đồng.

Các hoạt động khai thác giá trị văn hóa để phát triển du lịch, sản xuất hoặc kinh doanh phải giữ được tính chân thực, không làm biến dạng bản sắc và không phá vỡ không gian văn hóa truyền thống. Cộng đồng, nghệ nhân và người trực tiếp thực hành văn hóa phải được tham gia lựa chọn, tổ chức, quản lý, giám sát và thụ hưởng lợi ích.
Đề án cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tri thức truyền thống, dữ liệu văn hóa và quyền lợi hợp pháp của cộng đồng. Với những hoạt động khai thác văn hóa, tri thức hoặc không gian sống vào mục đích thương mại, người dân phải được cung cấp thông tin, tham vấn và tham gia thỏa thuận cơ chế chia sẻ lợi ích.
Những chỉ tiêu lớn đến năm 2030
Trong giai đoạn 2026-2030, Đề án phấn đấu rà soát, thống kê, đánh giá và phân loại 90% giá trị văn hóa truyền thống, không gian văn hóa có nguy cơ mai một; đồng thời xây dựng phương án bảo tồn, phục hồi hoặc phát huy phù hợp.
Ít nhất 70% lễ hội truyền thống, nghề thủ công, nghệ thuật trình diễn dân gian và tri thức dân gian tiêu biểu có nguy cơ mai một sẽ được phục dựng, bảo tồn và phát huy trên cơ sở tư liệu, điều kiện thực hành và sự thống nhất của cộng đồng.

Đề án sẽ hỗ trợ bảo tồn, phục hồi và phát huy không gian văn hóa truyền thống tại 60 làng, bản, buôn, phum, sóc; ưu tiên địa bàn khó khăn, các dân tộc thiểu số còn khó khăn hoặc có khó khăn đặc thù.
Trên 80% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được phấn đấu xây dựng ít nhất một mô hình, câu lạc bộ, đội, nhóm hoặc không gian thực hành văn hóa truyền thống hoạt động thường xuyên.
Trong lĩnh vực du lịch, Đề án đặt mục tiêu hỗ trợ xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng 80 điểm đến tiêu biểu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các điểm đến phải gắn với bảo tồn cảnh quan, không gian văn hóa, nghề thủ công, ẩm thực, lễ hội, nghệ thuật trình diễn và đời sống cộng đồng.
Ít nhất 100 mô hình bảo tồn, sáng tạo và phát huy giá trị văn hóa gắn với sinh kế bền vững sẽ được hỗ trợ xây dựng. Những mô hình có lợi thế về văn hóa, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và có khả năng kết nối thị trường du lịch được ưu tiên.
Đề án đồng thời khuyến khích phát triển sản phẩm OCOP, sản phẩm thủ công truyền thống và sản phẩm công nghiệp văn hóa; hỗ trợ đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, cấp phép khai thác, xây dựng thương hiệu, cải tiến mẫu mã, bao bì và truy xuất nguồn gốc.

Số hóa di sản, mở rộng thị trường
Chuyển đổi số là một trong những trọng tâm của Đề án. Đến năm 2030, tối thiểu 70% giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu đủ điều kiện được số hóa và cập nhật vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Toàn bộ tuyến, điểm du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng được lựa chọn hỗ trợ sẽ ứng dụng nền tảng số, mạng xã hội hoặc phương thức phù hợp để quảng bá, kết nối thị trường và tiêu thụ sản phẩm địa phương.
Các công nghệ như bản đồ số, mã QR, mã định danh, truy xuất nguồn gốc, công nghệ 3D, thực tế ảo và thực tế tăng cường sẽ được ứng dụng trong tư liệu hóa, giáo dục, truyền dạy, trải nghiệm và quảng bá văn hóa. Thông tin về sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề và sản phẩm văn hóa truyền thống cũng được kết nối với các tour, tuyến, điểm du lịch và hệ thống phân phối.
Quá trình số hóa phải bảo đảm an toàn thông tin, an ninh dữ liệu và quyền sở hữu trí tuệ. Những giá trị văn hóa thiêng, bí truyền hoặc thông tin nhạy cảm được phân loại, xác định rõ phạm vi và điều kiện khai thác.

Đến năm 2030, 100% công chức làm công tác văn hóa cấp xã tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về quản lý văn hóa, bảo tồn di sản và phát triển du lịch cộng đồng.
Ít nhất 50% nghệ nhân, chủ thể văn hóa nòng cốt và lực lượng kế cận được tập huấn kỹ năng số; 100% được tiếp cận chính sách hỗ trợ để tham gia bảo tồn, truyền dạy và phát huy giá trị văn hóa.
Bên cạnh đó, 70% cơ sở giáo dục phổ thông ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo dục văn hóa truyền thống hoặc xây dựng không gian trải nghiệm phù hợp. Các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú là những cơ sở được ưu tiên.

Mở rộng quy mô trong giai đoạn 2031-2035
Đến năm 2035, Đề án đặt mục tiêu 100% giá trị văn hóa truyền thống và không gian văn hóa có nguy cơ mai một được rà soát, thống kê, đánh giá, phân loại và xây dựng phương án bảo tồn.
Tỉ lệ lễ hội, nghề thủ công, nghệ thuật trình diễn dân gian và tri thức dân gian tiêu biểu có nguy cơ mai một được phục dựng, bảo tồn và phát huy dự kiến đạt 90%. Không gian văn hóa truyền thống tại 100 làng, bản, buôn, phum, sóc sẽ được hỗ trợ phục hồi và phát huy giá trị.

Trên 90% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu có ít nhất một mô hình hoặc không gian thực hành văn hóa hoạt động thường xuyên. Toàn bộ giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu đủ điều kiện sẽ được số hóa, từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ nghiên cứu, giáo dục, quảng bá và phát triển kinh tế.
Đề án hướng tới hỗ trợ nâng cao chất lượng 150 điểm đến du lịch tiêu biểu; hình thành các tuyến du lịch văn hóa cộng đồng liên vùng, phù hợp với sức chứa văn hóa, môi trường và lợi ích của người dân. Mỗi tỉnh, thành phố phấn đấu có ít nhất một sản phẩm hoặc thương hiệu văn hóa đặc trưng được xây dựng, quảng bá và phát triển thị trường.
Đến năm 2035, trên 90% nghệ nhân và chủ thể văn hóa kế cận được tập huấn kỹ năng số; 100% cán bộ văn hóa cấp xã, người quản lý điểm du lịch cộng đồng và các chủ thể tham gia hoạt động du lịch được đào tạo về quản trị văn hóa, kỹ năng số và nghiệp vụ du lịch.
Toàn bộ cơ sở giáo dục phổ thông vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu tổ chức hoạt động trải nghiệm hoặc xây dựng không gian giáo dục văn hóa truyền thống. Các tuyến, điểm du lịch cộng đồng được hỗ trợ phải thực hiện tiêu chí về phát triển xanh, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan gắn với văn hóa.

Bảo đảm nguồn lực và lợi ích lâu dài của cộng đồng
Kinh phí thực hiện Đề án được bố trí từ ngân sách nhà nước của Bộ VHTTDL, ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương; lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, đề án và dự án liên quan.
Bên cạnh đó, nguồn lực có thể được huy động từ doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân, quỹ, tổ chức quốc tế, tài trợ, viện trợ và các nguồn hợp pháp khác. Việc phân bổ kinh phí phải gắn với sản phẩm đầu ra, ưu tiên địa bàn khó khăn, giá trị văn hóa có nguy cơ mai một và những mô hình có sự tham gia thực chất của cộng đồng.
Các địa phương có trách nhiệm kiểm kê, xác định giá trị văn hóa cần ưu tiên bảo tồn; xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực, phát triển sản phẩm du lịch và sinh kế phù hợp. Doanh nghiệp, hợp tác xã và hiệp hội du lịch tham gia đầu tư, kết nối thị trường nhưng phải tôn trọng bản sắc, bảo vệ môi trường và bảo đảm quyền lợi của người dân.
Với hệ thống mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và 2035, Đề án mở ra hướng tiếp cận mới trong bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, tập trung giữ gìn giá trị truyền thống ngay trong đời sống cộng đồng, đồng thời tạo điều kiện để người dân phát triển sinh kế từ chính di sản mà cộng đồng các dân tộc đang gìn giữ.

RSS