Khám phá giếng cổ Chăm giữa vùng tiểu sa mạc

CHẾ DIỄM TRÂM

VHO - Nằm ở cuối thôn Thành Tín (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa), nơi tiếp giáp với đồi cát Nam Cương, cặp giếng cổ Chăm có niên đại từ thế kỷ XVII không chỉ là nguồn nước sinh hoạt lâu đời mà còn là biểu tượng văn hóa – tâm linh độc đáo của cộng đồng người Chăm địa phương.

Những ngày này, chúng tôi gồm 3 người (nhiếp ảnh gia Thái Sơn Ngọc dẫn đường, nhà thơ Như Hoài và tôi) đi tham quan di tích giếng cổ Chăm làng Thành Tín (nay là thôn Thành Tín, xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa).

Thành Tín, trong tiếng Chăm là gọi là “palei Cwah Patih”, nghĩa là làng Cát Trắng. Sở dĩ làng có tên như thế là vì cuối làng có một đồi cát trắng kéo dài sang tận đồi cát Nam Cương. Đồi Cát Trắng là nơi phát tích những mạch nước không bao giờ vơi cạn, trong đó có mạch nước ngầm tạo nên cặp giếng cổ làng Thành Tín.

Khám phá giếng cổ Chăm giữa vùng tiểu sa mạc - ảnh 1
Cổng thôn Thành Tín

Trên con đường dẫn vào hai giếng cổ, những mạch nước chảy tràn mênh mang, mát rượi. Cây cối dọc hai bên đường làng tươi tốt, xanh um, những cội me già ra hoa vàng đặc sệt, hoa giấy đủ màu sắc rực rỡ, chuối trĩu quả… Chính vị trí địa lý đặc biệt đó đã làm nên một biệt danh của làng Thành Tín là “vùng tiểu sa mạc không bao giờ hết nước”.

Trên một khuôn viên khoảng hơn 500 mét vuông, được bao quanh bằng đá chẻ và gạch cao khoảng 3 - 4 tấc, có hai cổng bằng gỗ, một cổng ở hướng tây nam, một cổng hướng đông bắc. Khuôn viên giếng rất sạch, trên đó có hai cái giếng hình vuông, thành giếng làm bằng gỗ săng đá, vì vậy người dân địa phương gọi đây là giếng hộc. Giếng vuông vức, mỗi cạnh khoảng 1,5 mét.

Giếng ở trung tâm và trên cao là giếng Ông/Đực (bingun Likei), giếng ở dưới thấp, nằm sát bờ tre phía đông là giếng Bà/Cái (bingun Kamei). Hai giếng nằm cách nhau không xa, chỉ khoảng 9 - 10 mét. Xung quanh bờ bao của hai cái giếng có rất nhiều bụi tre, vì vậy giếng còn có tên nôm na là giếng Tre.

Chúng tôi tìm đến nhà ông Châu Văn Thuê, sinh năm 1956 – nguyên Trưởng thôn Thành Tín, nay là Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi của thôn – để tìm hiểu thêm về cặp giếng cổ. Theo ông Thuê, giếng vuông Thành Tín có niên đại thế kỷ XVII, nằm ở cuối làng (vì thế tục danh mà dân làng thường gọi là Nguk Dzố, nghĩa là giếng ở cuối làng).

Khám phá giếng cổ Chăm giữa vùng tiểu sa mạc - ảnh 2
Giếng Ông hay còn gọi là giếng Đực

Theo lời kể truyền từ đời này sang đời khác, xưa kia giếng chỉ cách biển khoảng 1 - 2 cây số, nên ngoài chức năng cung cấp nước uống, nước sinh hoạt cho cả làng, nước giếng Thành Tín còn là “hàng hóa” để bán cho người đi biển.

Nước giếng không bao giờ vơi cạn, ngọt thanh, có màu đùng đục như nước vo gạo rất đặc trưng. Nhiếp ảnh gia Thái Sơn Ngọc kể, trước đây khi dân làng còn tập trung hằng ngày tại khu vực giếng, ông may mắn có được nhiều tấm ảnh độc đáo về thiếu nữ làng Thành Tín – các cô rất đẹp, da trắng tóc dài, có lẽ một phần là nhờ nước giếng làng.

Cặp giếng cổ làng Thành Tín là hình tượng chuẩn của giếng vuông Chăm. Dưới đáy giếng có một khung vuông làm bằng gỗ quý chịu được sự tác động của đất và nước hàng trăm năm. Bốn trụ giếng nằm sâu bên dưới mặt nước 1,2 mét và nhô lên khỏi mặt đất là 0,8 mét. Ba mặt của giếng đều có thành gỗ đóng theo chiều ngang để bao bọc, trừ mặt phía bắc để trống, nơi nước giếng chảy ra.

Nước giếng được phân thành 3 cấp: nước trong miệng giếng dùng để phục vụ cúng tế (chỉ riêng giếng Ông) và để uống, nước theo dòng chảy xuống chỗ thấp dành cho tắm giặt, chỗ thấp hơn nữa là nơi cho trâu bò uống nước và tưới ruộng.

Cánh đồng làng Thành Tín rộng khoảng 10ha đều lấy nguồn nước giếng và nước ngầm trên đồi cát chảy xuống. Vì cánh đồng không bao giờ thiếu nước nên người dân nơi đây có thể luân canh 3 vụ trong năm. Tháng bảy, chúng tôi đến thăm cánh đồng làng, lúa hè thu đang xanh thì con gái, mơn mởn.

Giếng Ông/Đực là nơi dành cho việc lấy nước cúng tế và dành cho phái nam, còn giếng Bà/Cái dành cho phái nữ. Từ sau năm 2000, hệ thống nước máy đã về tận nhà nên không còn cảnh cả làng xúm xít quanh khu vực giếng, cũng không còn cảnh các bà, các cô đội nước về nhà.

Nhưng hiện nay, một số nhà khi có đám (cúng, giỗ, tiệc…), người dân vẫn đánh xe bò đến chở nước giếng về dùng, để tiết kiệm tiền nước máy. Vì giếng vẫn phát huy công năng nên đã có đề án cải tạo, bảo tồn, phát huy giếng cổ Thành Tín thành một địa chỉ văn hóa xứng tầm.

Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inrasara từng kể một câu chuyện về sự tích giếng đôi này. Có một đôi nam nữ người Chăm yêu nhau, người nam thuộc đạo Bà-ni, người nữ theo đạo Bà-la-môn. Do luật tục xưa không cho lấy người khác đạo nên cha mẹ cô gái ra sức ngăn cấm. Ngăn cấm không được, cha mẹ đuổi cô ra khỏi nhà, khỏi làng.

Khám phá giếng cổ Chăm giữa vùng tiểu sa mạc - ảnh 3
Giếng Bà hay còn gọi là giếng Cái và mương nước chảy ra ruộng

Cô đau đớn bỏ đi vào rừng sâu, khóc ròng rã bảy ngày bảy đêm đến khi hết nước mắt rồi chết. Chàng trai hay tin vào rừng tìm cô, khi đến nơi thì cô đã lìa đời. Chàng làm đám thiêu cho người yêu rồi nhảy vào lửa chết cùng. Nước mắt họ thấm vào cát và chảy xuống giếng đôi để chứng minh tình yêu chung thủy.

Đa số người dân làng Thành Tín theo đạo Bà-ni. Câu chuyện trên vừa là sự tích giếng đôi vừa thể hiện khát vọng hóa giải luật tục khắt khe như chủ trương hòa giải hai cộng đồng tôn giáo của vua Po Rome (trị vì Vương quốc Chămpa từ năm 1627 đến năm 1651) – cộng đồng tôn giáo Bà-la-môn (Cam Ahier) và cộng đồng tôn giáo Bà-ni (Cam Awal).

Giếng Ông/Đực, giếng Bà/Cái (bingun Lakei - bingun Kamei) góp phần phản ánh quan niệm lưỡng hợp của văn hóa Chăm. Đây là một lối tư duy rất phổ biến của người Chăm, biểu hiện trên nhiều phương diện mà tiêu biểu nhất có lẽ là biểu tượng sinh thực khí Linga - Yoni vẫn được tôn thờ trong các đền, tháp Chăm.

Giếng Chăm vẫn còn tồn tại khá nhiều trên dải đất miền Trung, thậm chí ở cả miền Bắc, nhưng giếng vuông truyền thống thì có lẽ không nhiều (như giếng Bá Lễ ở phố cổ Hội An, giếng đá ở làng rau Trà Quế, giếng làng Thành Tín…).

Song, giếng vuông làm bằng gỗ và đi thành đôi thì chỉ có ở làng Thành Tín. Sự độc đáo của cặp giếng vuông Thành Tín cần được bảo tồn, quảng bá rộng rãi hơn nữa để nó không dừng ở cấp độ một di tích mà còn được nâng lên là một di sản văn hóa độc đáo.

Tin liên quan

Ý kiến bạn đọc