Để di sản văn hóa không “ngủ quên”

NGUYÊN KHANG

VHO - Việt Nam sở hữu kho tàng di sản phong phú, nhưng nhiều giá trị vẫn chưa được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế. Khi công nghiệp văn hóa bước vào giai đoạn phát triển mới, cần một cơ chế quản trị tài sản trí tuệ đồng bộ để bảo vệ bản sắc, khuyến khích sáng tạo, mở đường cho thương mại hóa và nâng sức cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt, để giá trị văn hóa bước vào đời sống kinh tế mới.

Trong bối cảnh hội nhập và kinh tế số, khoảng cách giữa giá trị văn hóa và giá trị thị trường vẫn còn lớn. Không ít sản phẩm mới dừng ở dạng quà lưu niệm, chưa tạo được giá trị gia tăng đáng kể. Theo các chuyên gia, điểm nghẽn nằm ở cách bảo hộ, quản trị và khai thác. Chính sách còn phân tán, thiếu liên thông, chưa hình thành cơ chế để kết nối di sản, sáng tạo, công nghệ, thị trường và quyền sở hữu trí tuệ thành chuỗi giá trị.

Những vấn đề này được đặt ra tại Tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại Việt Nam”, do Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức.

Để di sản văn hóa không “ngủ quên” - ảnh 1
Các chuyên gia trao đổi về định hướng hoàn thiện khung chính sách quản trị tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại Việt Nam. Ảnh: T.DUNG

Từ quản lý từng ngành đến kiến tạo hệ sinh thái

Nhìn từ thực tế đó, vấn đề đặt ra không còn nằm ở chỗ thiếu quy định, mà ở khả năng kết nối các chính sách thành một hệ thống vận hành. PGS.TS Nguyễn Mạnh Dũng, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn cho rằng, Việt Nam đã có nền tảng pháp lý đầy đủ với Luật Điện ảnh 2022, Luật Di sản văn hóa 2024, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Xuất bản 2012… Song hệ thống chính sách vẫn phân mảnh, thiếu liên thông, chưa tạo được hành lang pháp lý thống nhất cho công nghiệp văn hóa.

Theo ông, cần chuyển từ tư duy “Nhà nước quản lý từng ngành” sang “Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái quản trị tài sản trí tuệ và chuỗi giá trị sáng tạo”. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng tại Nghị quyết 28/2026/QH16, trong đó đặt vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong văn hóa, nghệ thuật.

TS Nguyễn Hữu Xuyên, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ nhìn nhận, công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế đặc biệt, nơi văn hóa, công nghệ, sở hữu trí tuệ và thị trường cùng vận hành. Khung chính sách cần dựa trên bốn trụ cột: Bảo tồn bản sắc; chuyển hóa di sản và niềm tự hào văn hóa thành giá trị kinh tế; tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt; góp phần định hình diện mạo văn hóa Việt Nam khi hội nhập. Cần một “tổ hợp chính sách” kết nối bảo tồn với sáng tạo, quản lý với thị trường, giá trị tinh thần với khả năng sinh lợi.

Theo các chuyên gia, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7.1.2026 đặt mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp 7% GDP; tầm nhìn đến năm 2045, cùng với kinh tế sáng tạo đóng góp 9% GDP. Để những mục tiêu ấy thành hiện thực, yêu cầu đặt ra là phải kết nối các chính sách thành một hệ sinh thái đủ sức bảo vệ bản sắc, nuôi dưỡng sáng tạo và đưa sản phẩm văn hóa vào thị trường. Trong hệ sinh thái đó, tài sản trí tuệ chính là mắt xích quan trọng để giá trị văn hóa được nhận diện, bảo hộ và chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.

Từ tài sản văn hóa đến giá trị thị trường

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, TS Lư Thị Thanh Lê, Trường Khoa học liên ngành (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho biết, Hoa Kỳ và Anh đã xây dựng các khung chính sách quản trị tài sản trí tuệ dựa trên nhiều trụ cột: Củng cố nền tảng pháp lý và cơ chế điều phối; hỗ trợ chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp vừa và nhỏ; phát triển hạ tầng dữ liệu, cơ chế cấp phép và tài chính hóa tài sản trí tuệ; tăng cường thực thi trên môi trường số và xây dựng chính sách liên quan đến AI.

Từ kinh nghiệm này, bà Lê cho rằng, mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp văn hóa và sáng tạo trong GDP chỉ có thể tiến gần hiện thực khi tài sản trí tuệ được nhận diện, định giá, cấp phép và tài chính hóa hiệu quả hơn. Ba điều kiện nền tảng cần được đáp ứng: Dữ liệu đủ chính xác để phục vụ cấp phép ở quy mô; chuẩn định giá đủ tin cậy để thị trường vốn chấp nhận; cơ chế thực thi đủ hiệu quả và tiết kiệm để cá nhân sáng tạo có thể tiếp cận.

Các chuyên gia nhấn mạnh vai trò của quản trị xuyên suốt, từ nhận diện, bảo hộ đến định giá, thương mại hóa và phân phối giá trị. Nếu tác phẩm, biểu tượng, mẫu thiết kế hay sản phẩm gắn với di sản chỉ được bảo hộ mà thiếu cơ chế khai thác, tài sản trí tuệ khó tạo giá trị mới. Ngược lại, thương mại hóa thiếu kiểm soát có thể làm biến dạng những giá trị làm nên sức hút sản phẩm.

Bài toán vì thế không dừng ở việc tạo thêm doanh thu từ văn hóa, mà là xây dựng chuỗi giá trị nuôi dưỡng sáng tạo. Người sáng tạo phải được bảo vệ quyền lợi; doanh nghiệp cần cơ chế khai thác minh bạch; cơ quan quản lý cần dữ liệu để điều phối; thị trường cần công cụ định giá đáng tin cậy.

Khi các mắt xích được kết nối, di sản và sáng tạo mới có thể đi xa hơn phạm vi trưng bày, lưu niệm hay biểu tượng. Tài sản trí tuệ khi đó trở thành nguồn lực tạo doanh thu, hình thành thương hiệu, mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh cho các ngành công nghiệp văn hóa.

Điều quan trọng là giữ được sự cân bằng, tạo điều kiện cho thị trường vận hành nhưng không đẩy văn hóa thành hàng hóa thuần túy; khuyến khích sáng tạo nhưng vẫn bảo vệ bản sắc và quyền lợi của chủ thể. Khi lợi ích kinh tế và giá trị văn hóa được đặt trong một cơ chế thống nhất, tài sản trí tuệ mới có thể trở thành nguồn lực bền vững.

Với một nền văn hóa giàu di sản như Việt Nam, dư địa còn rất lớn. Khi chính sách đồng bộ, thị trường minh bạch và quyền của người sáng tạo được bảo đảm, công nghiệp văn hóa mới có thể khai thác đúng tiềm năng, góp phần nâng vị thế và sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập.