Đưa văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển

HÀ AN - ĐÌNH TOÁN (thực hiện)

VHO - Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28.8.1945 - 28.8.2026), các chuyên gia, nhà quản lý nhìn lại những kết quả đã đạt được, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, phát huy giá trị di sản, đẩy mạnh văn hóa đối ngoại và đưa văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.

 Bảo tồn, phát huy giá trị di sản phải gắn với thực tiễn

Đưa văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển - ảnh 1

Nhìn lại chặng đường 81 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Văn hóa, một trong những thành tựu đáng ghi nhận là công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản ngày càng được quan tâm và có những chuyển biến tích cực. Trong thời gian qua, ở các địa phương, công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản đã đạt nhiều kết quả.

Một điểm rất đáng mừng là nhân dân ngày càng đồng tình, ủng hộ và tham gia vào công tác bảo tồn di sản. Người dân không chỉ là chủ thể mà còn đóng góp công sức, tiền của để cùng Nhà nước bảo tồn, gìn giữ những giá trị văn hóa của cha ông. Đây là điều rất quan trọng, bởi khi nhân dân đồng thuận và cùng tham gia thì công tác bảo tồn sẽ có nền tảng vững chắc hơn. Thực tế cho thấy, nhiều địa phương đã biết khai thác, phát huy những giá trị văn hóa, di sản gắn với phát triển du lịch. Những kết quả đạt được trong thời gian qua, đặc biệt là sự tăng trưởng của du lịch tại nhiều địa phương, cho thấy văn hóa, di sản đang ngày càng trở thành một nguồn lực quan trọng cho phát triển.

Trên cơ sở Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, ngành Văn hóa và các địa phương cần chủ động xây dựng các đề án, chương trình với tầm nhìn chiến lược, dài hạn hơn. Đây là bước chuyển rất quan trọng trong tư duy phát triển, bởi bảo tồn di sản không chỉ nhằm giữ gìn những giá trị của quá khứ mà phải hướng tới việc phát huy các giá trị đó trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực cho phát triển địa phương và đất nước. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản phải gắn với thực tiễn. Di sản nếu chỉ được giữ trong bảo tàng, trong hồ sơ hay trong những khu vực được bảo vệ mà không được đưa vào đời sống thì chưa phát huy hết giá trị. Điều quan trọng là phải làm sao để những giá trị ấy được lan tỏa, được nhân dân tiếp nhận và trở thành nguồn lực thực sự cho phát triển kinh tế - xã hội.

Tôi cho rằng, những kết quả đạt được hôm nay là sự nỗ lực của toàn ngành, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đặc biệt là sự đồng hành của nhân dân. Trong chặng đường mới, ngành Văn hóa cần tiếp tục phát huy tinh thần đó, vừa bảo tồn tốt những giá trị mà cha ông để lại, vừa tìm cách đưa những giá trị ấy vào cuộc sống, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh và nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước.

(Nguyên Thứ trưởng Bộ VHTTDL ĐẶNG THỊ BÍCH LIÊN)

Khơi dậy trong toàn ngành một khí thế hành động mới

Đưa văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển - ảnh 2

Trong xu thế hiện nay, văn hóa không còn chỉ được nhìn nhận như lĩnh vực bảo tồn, tuyên truyền hay tổ chức các hoạt động phong trào, mà phải trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững. Điểm đột phá trước hết là chuyển từ tư duy “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển văn hóa”.

Nhà nước không chỉ ban hành quy định, cấp phép và kiểm tra mà còn phải tạo lập môi trường thuận lợi để tài năng sáng tạo được phát hiện, các ý tưởng mới được nuôi dưỡng, doanh nghiệp văn hóa phát triển và những giá trị đặc sắc của dân tộc được chuyển hóa thành sản phẩm có sức cạnh tranh. Đầu tư cho văn hóa vì thế không đơn thuần là chi cho hoạt động xã hội, mà là đầu tư cho con người, cho năng lực sáng tạo và tương lai của quốc gia.

Tinh thần mới của ngành Văn hóa còn thể hiện ở quyết tâm đưa khoa học, công nghệ, dữ liệu và chuyển đổi số trở thành những công cụ phát triển chủ đạo. Di sản cần được số hóa để bảo tồn, phổ biến và tạo ra những trải nghiệm mới; nghệ thuật cần chủ động hiện diện trên các nền tảng số; các bảo tàng, thư viện, nhà hát và thiết chế văn hóa phải mở rộng không gian hoạt động, kết nối với công chúng bằng phương thức hiện đại. Đồng thời, cần hoàn thiện hành lang pháp lý đối với trí tuệ nhân tạo, bản quyền số và các mô hình sáng tạo mới.

Một hướng đột phá quan trọng khác là phát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng thương hiệu quốc gia. Điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, thủ công mỹ nghệ, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn phải được tổ chức thành những hệ sinh thái sáng tạo, kết nối Nhà nước, nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng và thị trường quốc tế. Văn hóa Việt Nam cần không chỉ được gìn giữ, mà còn phải được sáng tạo, lan tỏa và tạo ra giá trị kinh tế.

Ngày truyền thống vì vậy cần khơi dậy trong toàn ngành một khí thế hành động mới: Dám nghĩ, dám đổi mới, dám tháo gỡ những điểm nghẽn và dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển. Sứ mệnh của ngành Văn hóa trong kỷ nguyên mới là đánh thức nguồn lực văn hóa, giải phóng sức sáng tạo của con người Việt Nam và biến bản sắc dân tộc thành sức mạnh đưa đất nước vươn xa.

(GS.TS TỪ THỊ LOAN, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Văn hóa cộng đồng Việt Nam)

Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác văn hóa đối ngoại

Đưa văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển - ảnh 3

Nhìn lại chặng đường đã qua, nhất là trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hoạt động văn hóa đối ngoại của Việt Nam được thể hiện thông qua việc kêu gọi nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam. Trong nước, nguồn lực từ văn hóa đối ngoại được dành cho giáo dục, động viên và vận động toàn quân, toàn dân.

Từ sau năm 1990 đến nay, lĩnh vực văn hóa đối ngoại của Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc. Các hoạt động gắn liền với đường lối, chính sách và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ VHTTDL. Văn hóa đối ngoại được triển khai theo hai “mũi nhọn” chính. Trước hết là tăng cường giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài, lan tỏa hình ảnh đất nước, con người và những giá trị văn hóa đặc sắc, đa dạng trong thống nhất tới nhân dân các nước; góp phần tăng cường đoàn kết, hữu nghị, hợp tác vì hòa bình và tiến bộ.

Trong hợp tác quốc tế, Việt Nam đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác song phương, đồng thời duy trì quan hệ phối hợp chặt chẽ với UNESCO, nhất là trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Cùng với Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, Việt Nam đang nỗ lực thúc đẩy xây dựng trung tâm văn hóa tại một số nước.

Bên cạnh đó, hoạt động văn hóa đối ngoại luôn hướng đến đẩy mạnh hợp tác, thu hút các nguồn lực quốc tế phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam, đặc biệt trong nâng cao năng lực, kỹ năng quản lý trong lĩnh vực văn hóa. Kế thừa truyền thống của ngành, đặc biệt là bám sát tinh thần Nghị quyết 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, những người làm công tác văn hóa cần tiếp tục chú trọng hiệu quả hoạt động văn hóa đối ngoại theo hướng nâng cao vai trò và vị thế của văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.

Đặc biệt trong quá trình thực hiện, vấn đề quan trọng là cần bảo đảm nguồn lực ngân sách tương xứng để hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra; tránh tình trạng dự án hay nhưng thiếu nguồn lực để triển khai.

(TS NGUYỄN VĂN TÌNH, nguyên Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ VHTTDL)