Cơ hội và thách thức số hóa di sản:

(Bài cuối) Cần một hệ sinh thái số cho di sản văn hóa

HÀ AN

VHO - Phía sau những dự án số hóa riêng lẻ, ngành di sản đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một hệ sinh thái số đồng bộ, nơi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và khai thác hiệu quả trên phạm vi toàn quốc.

Trong dòng chảy công nghệ của thời đại số, di sản văn hóa đang bước vào một giai đoạn chuyển mình chưa từng có. Nếu trước đây, việc bảo tồn chủ yếu gắn với hiện vật, hồ sơ giấy hay những kho lưu trữ đóng kín, thì hôm nay, nhiều giá trị văn hóa đã bắt đầu hiện diện trong không gian số bằng dữ liệu 3D, bảo tàng trực tuyến, triển lãm tương tác hay các nền tảng tra cứu mở cho cộng đồng.

(Bài cuối) Cần một hệ sinh thái số cho di sản văn hóa - ảnh 1
Cần sự liên thông dữ liệu, tạo thành hệ sinh thái số di sản

Chuẩn hóa quy trình, tăng cường khả năng liên thông

Nhưng chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản không đơn thuần là câu chuyện “đưa hiện vật lên mạng”. Đó là hành trình giữ lại ký ức văn hóa trong bối cảnh đời sống đang thay đổi rất nhanh, đồng thời tìm cách để di sản tiếp tục tồn tại một cách tự nhiên trong đời sống đương đại. Ở nhiều quốc gia, công nghệ đã trở thành công cụ quan trọng để “hồi sinh” những giá trị đứng trước nguy cơ biến mất.

Sau vụ cháy Nhà thờ Đức Bà Paris năm 2019, dữ liệu quét laser 3D được sử dụng như nguồn tư liệu quý cho quá trình phục dựng. Tại Italia, nhiều di tích La Mã cổ được số hóa bằng công nghệ thực tế ảo để phục vụ nghiên cứu và du lịch. UNESCO cũng thúc đẩy các chương trình lưu trữ số đối với di sản đang bị đe dọa bởi chiến tranh, thiên tai và biến đổi khí hậu.

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế ấy. Trong vài năm gần đây, nhiều bảo tàng, di tích và địa phương đã bắt đầu xây dựng cơ sở dữ liệu số, số hóa hiện vật, ứng dụng công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường hay trí tuệ nhân tạo vào hoạt động bảo tồn và giới thiệu di sản.

Theo bà Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL), chuyển đổi số đang mở ra cơ hội lớn để di sản đến gần hơn với cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ. “Điều quan trọng của chuyển đổi số không chỉ là lưu trữ dữ liệu, mà làm sao để di sản có thể tiếp tục được tiếp cận, được hiểu và được chia sẻ trong đời sống hôm nay. Công nghệ giúp chúng ta mở rộng khả năng tiếp cận di sản, nhưng giá trị cốt lõi vẫn là con người và cộng đồng, những chủ thể đang gìn giữ di sản”, bà Hiền chia sẻ.

Theo Cục trưởng Lê Thị Thu Hiền, trong bối cảnh đời sống hiện đại thay đổi nhanh chóng, nhiều loại hình văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị đứt gãy truyền nối. Vì vậy, việc số hóa không chỉ phục vụ công tác quản lý, mà còn góp phần tạo ra nguồn tư liệu lâu dài cho giáo dục, nghiên cứu và phát triển công nghiệp văn hóa.

Ngày 4.4.2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng đã ký ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đề án đặt mục tiêu 100% lĩnh vực có nền tảng số dùng chung; dữ liệu di sản được chuẩn hóa, chia sẻ; 80% di sản số có mã định danh và ít nhất 80% di sản phi vật thể vùng dân tộc thiểu số được số hóa, lưu trữ.

Để đạt được mục tiêu này, theo bà Lê Thị Thu Hiền, ngành di sản sẽ ưu tiên xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ, chuẩn hóa quy trình số hóa và tăng cường khả năng liên thông dữ liệu giữa các địa phương. Đồng thời, việc đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức cả về công nghệ lẫn chuyên môn di sản cũng là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn tới.

(Bài cuối) Cần một hệ sinh thái số cho di sản văn hóa - ảnh 2

Lấp đầy những khoảng trống

Tuy nhiên, phía sau những chuyển động tích cực ấy vẫn còn không ít khoảng trống cần được lấp đầy. Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là sự thiếu đồng bộ giữa các địa phương trong quá trình triển khai. Nhiều dự án vẫn mang tính riêng lẻ, thiếu liên thông dữ liệu, dẫn tới tình trạng mỗi nơi xây dựng một hệ thống khác nhau, khó chia sẻ và khai thác lâu dài.

Thực tế cho thấy, có nơi đầu tư khá lớn cho số hóa nhưng dữ liệu lại chưa được chuẩn hóa, thiếu khả năng cập nhật hoặc không thể kết nối với hệ thống chung. Trong khi đó, không ít địa phương còn gặp khó khăn về kinh phí, thiếu thiết bị chuyên dụng và thiếu nhân lực am hiểu đồng thời cả công nghệ lẫn chuyên môn di sản.

Đặc biệt, với di sản phi vật thể, thách thức còn lớn hơn. Nhiều loại hình văn hóa tồn tại chủ yếu thông qua ký ức của nghệ nhân cao tuổi. Khi lớp người nắm giữ tri thức truyền thống dần vắng bóng, nguy cơ thất truyền cũng hiện hữu rõ rệt. Không ít chuyên gia cho rằng, nếu chậm trễ trong việc ghi chép và số hóa, nhiều lớp ký ức văn hóa có thể biến mất vĩnh viễn trước khi kịp lưu lại.

Ngoài ra, chuyển đổi số di sản cũng đặt ra những câu hỏi mới liên quan tới bản quyền dữ liệu, quyền sở hữu cộng đồng và đạo đức trong khai thác thông tin văn hóa. Không phải mọi dữ liệu di sản đều có thể tự do thương mại hóa hay sử dụng đại trà trên môi trường số.

Một số chuyên gia văn hóa cảnh báo rằng, nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp, công nghệ có thể vô tình làm “phẳng hóa” di sản, biến những giá trị văn hóa nhiều tầng sâu thành sản phẩm giải trí đơn giản hoặc nội dung tiêu dùng ngắn hạn trên mạng xã hội. Đó cũng là lý do nhiều ý kiến cho rằng chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản cần đi cùng chiến lược dài hạn, thay vì chỉ dừng ở những dự án mang tính thời vụ.

Theo bà Lê Thị Thu Hiền, điều cần thiết hiện nay là xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, có tiêu chuẩn chung để các địa phương cùng kết nối và chia sẻ. Quá trình này không thể chỉ dựa vào nguồn lực của ngành văn hóa, mà cần sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng địa phương.

“Di sản không phải là tài sản riêng của một cơ quan quản lý. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong môi trường số cần sự tham gia của nhiều bên, đặc biệt là cộng đồng, nơi di sản được sinh ra và lưu giữ qua nhiều thế hệ”, bà Hiền nhấn mạnh.

Từ thực tế đó, nhiều chuyên gia cho rằng điều Việt Nam cần hiện nay không chỉ là các dự án số hóa riêng lẻ, mà là một hệ sinh thái di sản văn hóa số đủ khả năng kết nối dữ liệu, chia sẻ tài nguyên và tạo ra giá trị lâu dài. Trong hệ sinh thái ấy, dữ liệu không nằm rời rạc ở từng bảo tàng, từng địa phương hay từng dự án ngắn hạn, mà được liên thông trên nền tảng chung với tiêu chuẩn thống nhất. Công nghệ không chỉ phục vụ lưu trữ, mà còn hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục, du lịch, sáng tạo nội dung và phát triển công nghiệp văn hóa.

Bên cạnh câu chuyện công nghệ, một yêu cầu khác cũng ngày càng được nhắc tới: Làm sao để dữ liệu di sản thực sự được “sống”, thay vì chỉ nằm trong các kho lưu trữ số? Trong bối cảnh người trẻ tiếp cận thông tin chủ yếu qua nền tảng số, video ngắn và các trải nghiệm trực quan, di sản cũng cần được kể lại bằng ngôn ngữ mới. Không phải để chạy theo xu hướng nhất thời, mà để tạo ra những cách tiếp cận gần gũi hơn với công chúng hiện đại.

Thời gian qua, một số dự án đã cho thấy tín hiệu tích cực khi kết hợp công nghệ với nghệ thuật kể chuyện. Công nghệ mapping được đưa vào trình diễn tại di tích; nhiều bảo tàng xây dựng không gian tương tác; một số dự án ứng dụng AI để phục dựng hình ảnh cổ hoặc tái hiện không gian lịch sử đã mất. Dù vậy, công nghệ hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của con người. Một dữ liệu số chỉ thực sự có ý nghĩa khi phía sau nó vẫn còn cộng đồng gìn giữ ký ức văn hóa và còn những người kể tiếp câu chuyện của di sản.

Trong định hướng chuyển đổi số văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái văn hóa số có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả dữ liệu trên phạm vi toàn quốc. Với lĩnh vực di sản, điều đó không chỉ là tạo ra những kho dữ liệu lớn, mà còn là tạo nền tảng để văn hóa tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại theo cách bền vững hơn.

Bởi suy cho cùng, giá trị lớn nhất của chuyển đổi số không nằm ở công nghệ hiện đại đến đâu, mà ở khả năng giữ cho ký ức văn hóa tiếp tục được lắng nghe trong hiện tại và truyền lại cho tương lai.