Cơ hội và thách thức số hóa di sản:

(Bài 2) Nếu chỉ chạy theo công nghệ

HÀ AN

VHO - Việc thực hiện số hóa di sản đã xuất hiện nhiều điểm sáng, cho thấy quá trình này đang trở thành một hướng đi mới theo quy định. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, cần đặt ra yêu cầu về cách làm bài bản, đồng bộ và bền vững hơn.

(Bài 2) Nếu chỉ chạy theo công nghệ - ảnh 1
Nhiều địa phương chuyển đổi số di sản đạt hiệu quả tích cực

 Theo đánh giá của Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL), những năm gần đây, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là di sản đã đặt trong một định hướng chiến lược. Việc ban hành Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 với mục tiêu số hóa toàn diện đã tạo ra cú hích quan trọng.

Chuyển đổi số là nhiệm vụ

Đáng chú ý, Nghị định số 308/2025/NĐ-CP của Chính phủ tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh số hóa di sản, xem đây là một trong những giải pháp trọng tâm để thích ứng với bối cảnh mới. Từ đây, chuyển đổi số không còn là một xu hướng mang tính khuyến khích, mà đã trở thành nhiệm vụ gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.

Giai đoạn 2021–2025 ghi nhận những kết quả ban đầu quan trọng, tạo nền tảng cho các bước triển khai tiếp theo. Bộ VHTTDL đã hoàn thành việc scan 4,3 triệu trang tài liệu (đạt 100%) các hồ sơ khoa học xếp hạng, ghi danh, công nhận di sản từ năm 1962 đến nay.

Song song với đó, việc số hóa 3D, Panorama 360 đối với một số di tích quốc gia đặc biệt như chùa Keo, tháp Bánh Ít, lăng Minh Mạng và 100 bảo vật quốc gia đã được triển khai. Các hệ thống thông tin quản lý di sản và bản đồ số cũng từng bước được kết nối theo dự án “Xây dựng nền tảng, cơ sở dữ liệu quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”.

Ở địa phương, 29/34 tỉnh, thành phố đã triển khai số hóa với nhiều cách làm đa dạng. Có thể kể đến Bắc Ninh với việc số hóa hơn 120 di tích cùng hơn 50.000 dữ liệu ảnh, video; xây dựng tour tham quan 360; ghi hình, lưu trữ gần 70 lễ hội và 50 làn điệu quan họ; số hóa hơn 3.000 tài liệu cổ.

Tại Huế, công nghệ 360 được ứng dụng để số hóa không gian Kinh thành, điện Thái Hòa, Hải Vân Quan; 207 cổ vật được số hóa 3D; hơn 452.000 trang tư liệu Hán - Nôm và 30 lễ hội tiêu biểu được lưu trữ dưới dạng số. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ BIM trong trùng tu di tích đã mở ra hướng tiếp cận mới trong bảo tồn.

Tỉnh Quảng Ninh cũng đã số hóa 142/165 di tích, xây dựng không gian 360 cho 17 di tích, tích hợp hơn 550 hiện vật 3D trên nền tảng bảo tàng số; đồng bộ hàng nghìn tư liệu hiện vật và triển khai hệ thống trưng bày số, bảo tàng ảo VR360.

Tại Đồng Nai, hơn 2.600 hồ sơ và gần 2.700 hiện vật đã được số hóa; 5 bộ bảo vật quốc gia được dựng 3D; nhiều di tích được triển khai trải nghiệm VR; hàng chục nghìn trang tài liệu và gần 100 phim tư liệu được lưu trữ dưới dạng số.

Ninh Bình, Đồng Tháp, Hà Tĩnh… cũng đang từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng GIS, VR, chatbot AI hay số hóa hàng chục nghìn trang tư liệu, hiện vật. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô triển khai, mà còn cho thấy một thực tế: Số hóa di sản đã không còn là câu chuyện riêng lẻ, mà đang dần trở thành một xu hướng lan tỏa.

(Bài 2) Nếu chỉ chạy theo công nghệ - ảnh 2
Ứng dụng công nghệ mở tour khám phá di sản về đêm thu hút giới trẻ

Số hóa di sản không chỉ là câu chuyện công nghệ

Thực tế cho thấy, tại nhiều di tích, công nghệ đã trở thành cầu nối hiệu quả giữa di sản và công chúng. Theo ông Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, quá trình chuyển đổi số không diễn ra một cách dễ dàng, mà đòi hỏi sự thử nghiệm, điều chỉnh liên tục.

Tuy nhiên, những kết quả đạt được là rất rõ ràng. Các sản phẩm như tour đêm, trình chiếu 3D hay hệ thống thuyết minh tự động không chỉ làm mới cách tiếp cận di sản mà còn góp phần gia tăng đáng kể lượng khách tham quan. Có thời điểm, các chương trình phải tổ chức nhiều suất mỗi tối để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng.

Không chỉ ở các di tích, lĩnh vực bảo tàng và lưu trữ cũng đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ. Nhiều không gian trưng bày số, triển lãm trực tuyến được xây dựng, giúp công chúng có thể tiếp cận di sản mà không còn bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý hay thời gian. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, người dùng có thể “đi lại” trong không gian ảo, quan sát hiện vật dưới dạng mô hình 3D, thậm chí tương tác trực tiếp với các lớp thông tin được tích hợp.

Công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) đã góp phần biến những trải nghiệm vốn mang tính một chiều trở thành hành trình khám phá đa giác quan, sinh động và hấp dẫn hơn. Đáng chú ý, số hóa không chỉ dừng lại ở việc phục vụ trải nghiệm, mà còn đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn di sản.

Nhiều tài liệu quý hiếm như mộc bản, châu bản, sắc phong, bản đồ cổ hay phim tư liệu đã được số hóa với độ chính xác cao. Đối với di sản phi vật thể, vốn dễ bị mai một theo thời gian, việc ghi hình, lưu trữ dưới dạng số càng có ý nghĩa đặc biệt, góp phần “giữ lại” những giá trị văn hóa cho các thế hệ mai sau…

Tuy nhiên, theo TS Lê Thị Minh Lý, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam, số hóa di sản không đơn thuần là câu chuyện công nghệ. Đây là một quá trình mang tính liên ngành, đòi hỏi sự tham gia của các nhà nghiên cứu, chuyên gia bảo tàng, nhà thiết kế, cán bộ kỹ thuật và cả những người làm giáo dục, truyền thông. Chỉ khi các yếu tố này được kết hợp chặt chẽ, sản phẩm số hóa mới vừa đảm bảo giá trị khoa học, vừa có tính hấp dẫn và phù hợp với nhu cầu đa dạng của công chúng.

PGS.TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hoá quốc gia cũng đánh giá cao những hiệu quả mà chuyển đổi số mang lại. Theo ông, công nghệ không chỉ giúp bảo tồn di sản, mà còn mở rộng khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa.

Nếu trước đây, việc tiếp cận di sản chủ yếu diễn ra tại chỗ, thì nay, thông qua môi trường số, di sản có thể “đi xa” hơn, đến với đông đảo công chúng trong và ngoài nước mà không tốn kém nhiều chi phí. Điều này góp phần đưa văn hóa Việt Nam trở thành một nguồn lực mềm quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Dẫu vậy, ông Bài cũng cho rằng, phía sau những điểm sáng, bức tranh chuyển đổi số di sản vẫn còn không ít khoảng trống. Sự phát triển chưa đồng đều giữa các địa phương là một thực tế dễ nhận thấy.

Trong khi một số nơi triển khai mạnh mẽ, tạo ra nhiều sản phẩm sáng tạo, thì ở nhiều địa phương khác, số hóa vẫn dừng lại ở mức cơ bản, chủ yếu là tạo lập dữ liệu. Nhiều dự án còn mang tính riêng lẻ, thiếu sự kết nối, dẫn đến tình trạng phân tán, khó khai thác hiệu quả.

Bên cạnh đó, việc chuyển hóa dữ liệu số thành các sản phẩm phục vụ công chúng vẫn chưa được chú trọng đúng mức ở một số nơi. Sự khác biệt về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và năng lực triển khai cũng tạo ra khoảng cách đáng kể giữa các địa phương. “Nếu chỉ chạy theo công nghệ mà thiếu nội dung, thiếu câu chuyện, thì hiệu quả mang lại sẽ không cao”, PGS.TS Đặng Văn Bài nói.

Bên cạnh cơ hội, quá trình số hóa di sản cũng đang đặt ra yêu cầu về cách làm bài bản, đồng bộ và bền vững hơn. Làm thế nào để các mô hình không dừng lại ở những điểm sáng riêng lẻ? Làm thế nào để dữ liệu được kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả? Và làm thế nào để công nghệ thực sự trở thành công cụ phục vụ di sản, chứ không phải là lớp “vỏ” hình thức? Đó cũng là những bài toán cần tiếp tục giải quyết khi mục tiêu không chỉ dừng ở “đánh thức” di sản, mà hướng đến xây dựng một hệ sinh thái di sản số bền vững.

(Còn tiếp)