Chuyển đổi số mở hướng mới cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản
VHO - Từ số hóa hồ sơ Di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia đến triển khai công nghệ 3D tại nhiều di sản tiêu biểu, chuyển đổi số đang từng bước tạo nền tảng mới cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, để dữ liệu di sản thực sự trở thành nguồn lực phát triển, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, chuẩn hóa dữ liệu và đưa các thành quả số hóa đến gần hơn với công chúng.
Nhân Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10.10, phóng viên Văn Hóa đã có cuộc trao đổi với bà Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hoá (Bộ VHTTDL) về những kết quả đạt được, khó khăn và định hướng chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa.

P.V: Thưa bà, bà đánh giá như thế nào về vai trò của số hóa di sản trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay?
- Cục trưởng Cục Di sản văn hoá Lê Thị Thu Hiền: Những năm gần đây, chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa đã có những chuyển biến quan trọng, từ số hóa hồ sơ, tư liệu chuyên ngành đến xây dựng nền tảng quản lý và ứng dụng công nghệ mới trong lưu giữ, giới thiệu các di sản tiêu biểu.
Việc số hóa toàn bộ hồ sơ về Di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia, di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu, khảo cổ, tu bổ và quy hoạch di tích hiện đang lưu trữ tại Cục Di sản văn hóa, cùng với việc triển khai số hóa 3D một số di sản tiêu biểu như Quần thể di tích Lăng Minh Mạng, Chùa Keo, Tháp Bánh Ít và 100 bảo vật quốc gia, đã tạo thêm cơ sở quan trọng cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Những kết quả này cho thấy số hóa không còn là một nhiệm vụ mang tính hỗ trợ đơn thuần mà đang trở thành một phần quan trọng trong phương thức quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Trong bối cảnh nhiều di sản chịu tác động của thời gian, thiên tai, biến đổi khí hậu, đô thị hóa và áp lực khai thác ngày càng lớn, việc ứng dụng công nghệ số giúp lưu giữ thông tin, hình ảnh và dữ liệu về di sản một cách có hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, kiểm kê, theo dõi tình trạng, lập hồ sơ khoa học cũng như phục vụ công tác tu bổ, phục dựng khi cần thiết.
Triển khai 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số
Quan trọng hơn, chuyển đổi số mở ra cách tiếp cận mới đối với di sản. Nếu trước đây việc tiếp cận thông tin chủ yếu thông qua hồ sơ, tư liệu lưu trữ hoặc các chuyến tham quan trực tiếp, thì ngày nay, với sự hỗ trợ của các nền tảng số, bảo tàng trực tuyến, công nghệ quét 3D, thực tế ảo và ứng dụng di động, công chúng có thể tìm hiểu di sản thuận tiện hơn, không bị giới hạn hoàn toàn bởi không gian và thời gian.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa. Đây là định hướng quan trọng, khẳng định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản lý và huy động các nguồn lực xã hội.
Vì vậy, chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản cần được nhìn nhận như một quá trình lâu dài, có tính hệ thống, kết hợp giữa bảo tồn giá trị gốc với mở rộng khả năng tiếp cận, sáng tạo và khai thác giá trị di sản một cách bền vững.
Trong thời gian qua, Cục Di sản văn hóa đã triển khai những chương trình, dự án số hóa di sản nổi bật nào và đạt được kết quả ra sao, thưa bà?
- Thời gian qua, Cục Di sản văn hóa đã tích cực tham mưu, triển khai các chương trình, nhiệm vụ chuyển đổi số theo định hướng của Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Một trong những cơ sở quan trọng là Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 2026/QĐ-TTg, hướng tới số hóa toàn diện các loại hình di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản tư liệu, bảo vật quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt và xây dựng hệ thống dữ liệu số quốc gia về di sản văn hóa.
Trên cơ sở đó, Bộ VHTTDL đã phê duyệt Dự án “Xây dựng nền tảng, cơ sở dữ liệu quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”, với tổng mức đầu tư hơn 198 tỉ đồng, triển khai trong giai đoạn 2023-2025. Đây là một trong những dự án có quy mô đáng chú ý của ngành di sản văn hóa, hướng đến hình thành nền tảng dữ liệu phục vụ đồng thời công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Trong chương trình Số hóa di sản văn hoá Việt Nam giai đoạn 2021-2025, Cục Di sản văn hóa đã số hóa toàn bộ hồ sơ về Di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia, di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu, khảo cổ, tu bổ di tích và quy hoạch di tích đang được lưu trữ tại Cục.
Cùng với đó, việc số hóa 3D Quần thể di tích Lăng Minh Mạng, Chùa Keo, Tháp Bánh Ít và 100 bảo vật quốc gia góp phần tạo lập nguồn dữ liệu trực quan, hỗ trợ công tác nghiên cứu, lưu giữ và giới thiệu giá trị di sản.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng, từng bước hoàn thiện các nền tảng số chuyên ngành. Bộ VHTTDL đã triển khai hệ thống thông tin quản lý di sản, xây dựng cổng dữ liệu di sản văn hóa trên nền tảng web và ứng dụng di động, hướng đến phục vụ nhu cầu quản lý, khai thác và cung cấp thông tin cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp.
Để bảo đảm dữ liệu được thu thập và quản lý thống nhất, Cục Di sản văn hóa cũng tham mưu Bộ ban hành Quyết định số 991/QĐ-BVHTTDL ngày 29.4.2026 về Quy chế danh mục trường thông tin, dữ liệu, dữ liệu số, quy trình thu thập, cập nhật, chỉnh sửa và yêu cầu đối với việc phúc tra cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.
Đồng thời, các quy định kỹ thuật về số hóa, lưu trữ, bảo quản và khai thác hồ sơ, tư liệu số từng bước được hoàn thiện nhằm chuẩn hóa quy trình, tiêu chuẩn dữ liệu trong lĩnh vực chuyên ngành.
Có thể nói, những kết quả trên đã tạo nền tảng ban đầu cho việc hình thành hệ sinh thái dữ liệu số ngành di sản văn hóa theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp và liên thông. Đây cũng là tiền đề để các cơ quan quản lý, đơn vị chuyên môn và địa phương nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu, từng bước chuyển từ phương thức quản lý dựa nhiều vào hồ sơ truyền thống sang quản lý dựa trên dữ liệu số.

Theo bà, đâu là những khó khăn, thách thức lớn nhất trong quá trình số hóa di sản, đặc biệt tại các địa phương và cần giải pháp gì để tháo gỡ?
- Khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn lực, nhất là tại các địa phương. Số hóa di sản đòi hỏi kinh phí đầu tư đáng kể, hạ tầng công nghệ đồng bộ, thiết bị chuyên dụng và đội ngũ nhân lực có kiến thức chuyên môn cả về di sản văn hóa lẫn công nghệ thông tin. Trong khi đó, nhiều địa phương còn hạn chế về ngân sách, thiếu cán bộ kỹ thuật chuyên sâu và chưa có điều kiện đầu tư đầy đủ cho hệ thống lưu trữ, bảo mật, vận hành và cập nhật dữ liệu.
Bên cạnh đó, dữ liệu di sản hiện vẫn còn phân tán, chưa đồng bộ và chưa được chuẩn hóa thống nhất. Nhiều hồ sơ, tài liệu đang tồn tại dưới dạng giấy, có nguy cơ xuống cấp; cấu trúc dữ liệu, phương thức quản lý và quy trình cập nhật giữa các đơn vị chưa đồng nhất. Điều này gây khó khăn cho việc tích hợp, chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa Trung ương với địa phương, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác thông tin trong thực tiễn.
Cũng cần nhận thức rõ rằng số hóa di sản không đơn thuần là quét tài liệu để chuyển từ bản giấy sang bản điện tử. Quá trình này còn bao gồm xây dựng dữ liệu có cấu trúc, chuẩn hóa siêu dữ liệu, số hóa hình ảnh, âm thanh, video, bản đồ, quét 3D và thiết lập nền tảng dùng chung để chia sẻ, khai thác thông tin.
Mỗi loại hình di sản có đặc điểm riêng, đòi hỏi phương pháp, thiết bị và tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp. Vì vậy, nếu thiếu một hệ thống quy chuẩn thống nhất, dữ liệu dù đã được số hóa vẫn có thể khó kết nối, khó sử dụng lâu dài.
Để tháo gỡ những khó khăn đó, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tiêu chuẩn kỹ thuật về số hóa di sản văn hóa, bảo đảm tính thống nhất trên phạm vi cả nước. Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đã đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và bộ tiêu chí dữ liệu chung. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương triển khai đồng bộ, tránh tình trạng đầu tư riêng lẻ, thiếu kết nối.

Thứ hai, cần bố trí nguồn kinh phí ổn định, không chỉ cho đầu tư ban đầu mà còn cho vận hành, bảo trì, bảo dưỡng, bảo mật và cập nhật dữ liệu thường xuyên. Dữ liệu số chỉ thực sự có giá trị khi được quản lý, bổ sung và khai thác liên tục, thay vì chỉ được tạo lập trong một dự án rồi thiếu nguồn lực duy trì.
Thứ ba, cần tăng cường đào tạo nhân lực chuyển đổi số cho ngành di sản, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tại địa phương, bảo tàng và ban quản lý di tích. Bên cạnh kiến thức công nghệ, cán bộ cần hiểu rõ đặc thù chuyên môn để bảo đảm dữ liệu được số hóa chính xác, có giá trị khoa học và đáp ứng yêu cầu bảo tồn.
Thứ tư, cần đẩy mạnh xã hội hóa, huy động sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng. Sự phối hợp giữa các bên sẽ góp phần bổ sung nguồn lực, phát triển giải pháp công nghệ phù hợp và mở rộng khả năng khai thác dữ liệu di sản.
Điều quan trọng là phải xác định chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản là quá trình đầu tư lâu dài, cần có lộ trình, thứ tự ưu tiên và cơ chế cập nhật thường xuyên. Chúng ta cần triển khai bài bản, có trọng tâm, phù hợp với điều kiện thực tế, tránh tư duy chạy theo công nghệ hoặc thực hiện manh mún, ngắn hạn.
Trong thời gian tới, ngành di sản sẽ tập trung vào những định hướng, nhiệm vụ ưu tiên nào để nâng cao hiệu quả bảo tồn và khai thác giá trị di sản?
- Ngày 4.4.2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng đã ký ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Quyết định là định hướng chiến lược quan trọng đối với ngành văn hóa nói chung và lĩnh vực di sản văn hóa nói riêng.
Đề án xác định chuyển đổi số không chỉ là việc ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình đổi mới toàn diện phương thức quản lý, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị văn hóa trên môi trường số. Trên cơ sở đó, ngành di sản sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa, liên thông và có khả năng chia sẻ giữa Trung ương với địa phương; từng bước kết nối cơ sở dữ liệu di sản văn hóa với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.

Đây là nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và khai thác giá trị di sản, đồng thời hạn chế tình trạng dữ liệu phân tán, trùng lặp hoặc khó tiếp cận.
Thứ hai, ưu tiên số hóa những loại hình di sản có giá trị tiêu biểu, có nguy cơ mai một hoặc xuống cấp, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu, bảo vật quốc gia và di sản của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đã được xếp hạng, công nhận hoặc ghi danh từ cấp quốc gia trở lên.
Việc xác định đúng đối tượng ưu tiên sẽ giúp tập trung nguồn lực vào những giá trị cần được lưu giữ khẩn trương, đồng thời tạo cơ sở phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn và trao truyền di sản cho các thế hệ sau.
Thứ ba, khai thác hiệu quả nền tảng và cơ sở dữ liệu quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa; đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và Internet vạn vật trong bảo tồn, phục dựng, trưng bày, diễn giải và quảng bá di sản.
Việc ứng dụng công nghệ cần gắn với nhu cầu thực tế, bảo đảm tính chính xác của thông tin, đồng thời tạo điều kiện để công chúng tiếp cận di sản bằng những hình thức phong phú hơn.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là chuyển hóa dữ liệu di sản thành các sản phẩm và dịch vụ văn hóa số phục vụ cộng đồng. Ngành di sản sẽ thúc đẩy phát triển triển lãm số, tham quan trực tuyến, bản đồ số di sản, hệ thống thuyết minh thông minh, ứng dụng trải nghiệm tương tác và các nền tảng giáo dục di sản số.
Qua đó, không gian tiếp cận di sản được mở rộng, giúp người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thêm cơ hội tìm hiểu, trải nghiệm và kết nối với những giá trị văn hóa của dân tộc.
Song song với phát triển công nghệ và dữ liệu, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế quản lý dữ liệu số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng, quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ dữ liệu di sản trên môi trường số. Công tác đào tạo nhân lực cũng phải được chú trọng, từ Trung ương đến địa phương, nhằm nâng cao năng lực quản trị, vận hành và khai thác dữ liệu.
Chúng tôi kỳ vọng rằng, với sự quan tâm của Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia tích cực của toàn xã hội, chuyển đổi số sẽ tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam.
Khi được số hóa, kết nối và khai thác đúng hướng, di sản không chỉ được lưu giữ tốt hơn mà còn có thêm cơ hội lan tỏa trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển văn hóa, du lịch và kinh tế sáng tạo, góp phần đưa văn hóa Việt Nam phát triển bền vững trong thời đại số.
Xin cảm ơn bà!

RSS