Chuyển đổi số tạo thêm phương thức để những giá trị văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và phát triển

XUÂN TRƯỜNG

VHO - Chuyển đổi số không thay thế giá trị cốt lõi của văn hóa, mà mở ra phương thức mới để bảo tồn, phát huy di sản, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng và thúc đẩy sáng tạo. Khi công nghệ gắn với nhu cầu thực tiễn, tài nguyên văn hóa sẽ có thêm cơ hội trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.

Chuyển đổi số phải tạo ra những giá trị thực chất

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực phát triển, chuyển đổi số giữ vai trò quan trọng trong hiện đại hóa quản trị quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Từ cải cách thủ tục hành chính, phát triển dịch vụ công trực tuyến đến đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh, công nghệ số đang mở ra những cách thức mới để sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao năng suất và mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp.

Được tổ chức hằng năm vào ngày 10.10, Ngày Chuyển đổi số quốc gia nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy hành động và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào tiến trình chuyển đổi số.

Năm 2026, chủ đề “Từ kiến trúc, nền tảng, dữ liệu đến kết quả thực chất, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia” nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ xây dựng hạ tầng, nền tảng sang tạo ra những giá trị cụ thể trong thực tiễn.

Chuyển đổi số tạo thêm phương thức để những giá trị văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và phát triển - ảnh 1
Bộ nhận diện Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10.10.2026

Thực tế, nền tảng chuyển đổi số quốc gia tiếp tục được củng cố. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến tháng 9.2026, mạng 5G đã phủ sóng 91,99% dân số, cáp quang đã đến 100% xã, phường; cả nước có 81.600 doanh nghiệp công nghệ số, với doanh thu công nghiệp công nghệ số đạt gần 3,6 triệu tỉ đồng. Những kết quả này tạo điều kiện để chuyển đổi số đi sâu hơn vào các lĩnh vực của đời sống.

Tuy nhiên, hạ tầng và nền tảng chỉ phát huy hiệu quả khi được kết nối, khai thác và sử dụng thực chất.

Những hạn chế về tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu, khả năng liên thông giữa các hệ thống, nguồn nhân lực và năng lực ứng dụng công nghệ cho thấy chuyển đổi số không đơn thuần là đưa các hoạt động hiện có lên môi trường số, mà còn đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý, tổ chức công việc và đánh giá hiệu quả. Mỗi khoản đầu tư cần gắn với mục tiêu cụ thể, đáp ứng nhu cầu thực tế và tạo ra giá trị có thể đo lường.

Yêu cầu này cũng đặt ra đối với lĩnh vực văn hóa – nơi lưu giữ những giá trị làm nên bản sắc dân tộc, đồng thời có tiềm năng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn di sản mà còn mở rộng khả năng tiếp cận các giá trị văn hóa, thúc đẩy sáng tạo và hình thành những sản phẩm, dịch vụ mới.

Đây là cơ sở để ngành văn hóa chuyển từ số hóa tư liệu đơn thuần sang khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa, đưa di sản và các giá trị truyền thống tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.

Số hóa di sản, mở rộng không gian tiếp cận văn hóa

Việt Nam sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú, từ các di tích lịch sử, kiến trúc, bảo vật, hiện vật đến những loại hình nghệ thuật truyền thống, tri thức dân gian, lễ hội và phong tục của cộng đồng các dân tộc.

Đây là nguồn tài nguyên quý giá, không chỉ góp phần bồi đắp bản sắc và đời sống tinh thần mà còn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, thúc đẩy du lịch, giáo dục và các ngành công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, để những giá trị ấy được bảo tồn lâu dài và lan tỏa rộng rãi, phương thức quản lý, lưu trữ và giới thiệu di sản cần thích ứng với điều kiện mới. Những tư liệu chỉ được lưu giữ dưới dạng hồ sơ giấy, hình ảnh rời rạc hoặc dữ liệu phân tán sẽ hạn chế khả năng tra cứu, kết nối và khai thác.

Trong khi đó, việc số hóa, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu có thể tạo điều kiện để di sản được tiếp cận từ nhiều không gian, phục vụ nhiều nhóm công chúng và phát triển thành các sản phẩm sáng tạo.

Ngày 4.4.2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Đề án hướng tới hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời bảo đảm tài nguyên văn hóa được số hóa, chia sẻ và khai thác hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Chuyển đổi số tạo thêm phương thức để những giá trị văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và phát triển - ảnh 2
Khu trưng bày 3D mapping của Bộ VHTTDL tại Triển lãm Thành tựu đất nước. Ảnh: Nguyễn Linh

Theo mục tiêu của Đề án, đến năm 2030, phấn đấu 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ theo quy định. Ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể của vùng đồng bào dân tộc thiểu số được số hóa, lưu trữ trong các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Các bảo tàng, thư viện công lập được định hướng hoàn thiện mô hình số, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu.

Đây là định hướng quan trọng để chuyển đổi số ngành văn hóa đi vào chiều sâu, không chỉ dừng ở việc đưa thông tin lên mạng mà còn tiến tới hình thành hệ sinh thái dữ liệu có khả năng kết nối và phục vụ nhiều mục đích.

Khi được số hóa và chuẩn hóa, hồ sơ di sản có thể hỗ trợ công tác quản lý, nghiên cứu, giáo dục, quảng bá du lịch và sáng tạo nội dung. Các tư liệu về nghệ thuật truyền thống, âm nhạc, ngôn ngữ, lễ hội hay tri thức dân gian cũng có thêm cơ hội được lưu giữ, truyền dạy và tiếp cận với thế hệ trẻ.

Trong lĩnh vực di sản, công nghệ số mở ra những phương thức mới để công chúng tìm hiểu và trải nghiệm các giá trị lịch sử, văn hóa.

Chuyển đổi số tạo thêm phương thức để những giá trị văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và phát triển - ảnh 3
Du khách khám phá, trải nghiệm các sản phẩm văn hóa với công nghệ thực tế ảo. Ảnh: Liên Minh

Bên cạnh hình thức tham quan trực tiếp, người dân có thể tiếp cận thông tin qua bản đồ số, hình ảnh ba chiều, thuyết minh trực tuyến, công nghệ thực tế ảo hoặc các nền tảng tương tác. Những công cụ này giúp mở rộng không gian tiếp cận di sản, nhất là với người ở xa, học sinh, sinh viên và những nhóm gặp khó khăn trong việc tham quan trực tiếp.

Theo thông tin được Bộ VHTTDL công bố, trong giai đoạn 2021 - 2025, ngành đã triển khai các hệ thống thông tin quản lý di sản, số hóa 100% hồ sơ di sản văn hóa được công nhận, ghi danh, xếp hạng cấp quốc gia và di sản văn hóa thế giới từ năm 1962 đến nay; đồng thời số hóa 3 di tích quốc gia đặc biệt và 100 bảo vật quốc gia.

Đây là những bước tiến quan trọng trong xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản.

Dẫu vậy, số hóa mới chỉ là bước khởi đầu. Một bức ảnh được quét, một hiện vật được chụp hay một hồ sơ được đưa lên mạng chưa đồng nghĩa với việc giá trị văn hóa đã được phát huy đầy đủ.

Điều quan trọng là dữ liệu phải có độ tin cậy, được chuẩn hóa, xác định rõ nguồn gốc và quyền khai thác, đồng thời có khả năng kết nối, tái sử dụng. Nếu mỗi đơn vị xây dựng một hệ thống riêng, dữ liệu thiếu thống nhất hoặc không được cập nhật, nguồn tài nguyên ấy vẫn khó phát huy hiệu quả.

Công nghệ số mở đường cho công nghiệp văn hóa

Bên cạnh di sản, chuyển đổi số còn tạo ra cơ hội phát triển cho các thiết chế văn hóa như bảo tàng, thư viện, nhà hát và trung tâm văn hóa.

Thư viện số có thể mở rộng khả năng tiếp cận sách, tài liệu và tri thức; bảo tàng số tạo thêm phương thức trưng bày, diễn giải hiện vật; các nhà hát, đơn vị nghệ thuật có thể phát triển nội dung trực tuyến, tiếp cận khán giả mới và mở rộng kênh quảng bá tác phẩm. Khi dữ liệu được kết nối, những thiết chế này không chỉ hoạt động như các điểm cung cấp dịch vụ riêng lẻ mà còn có thể tham gia vào mạng lưới chia sẻ tri thức và tài nguyên văn hóa.

Đặc biệt, chuyển đổi số đang mở rộng không gian phát triển của công nghiệp văn hóa. Điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, xuất bản, trò chơi điện tử và nội dung số đều có thể tận dụng nền tảng công nghệ để đổi mới quy trình sáng tạo, sản xuất và phân phối.

Chuyển đổi số tạo thêm phương thức để những giá trị văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và phát triển - ảnh 4
Chuyển đổi số tạo thêm phương thức để những giá trị văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và phát triển - ảnh 5
Công nghệ tạo nên nhiều sự thay đổi trong nghệ thuật biểu diễn. Ảnh: Trần Huấn

Công nghệ AI, nếu được ứng dụng phù hợp, có thể hỗ trợ xử lý tư liệu, phục dựng dữ liệu, tìm kiếm thông tin, cá nhân hóa trải nghiệm và phát triển các hình thức kể chuyện mới. Tuy nhiên, việc ứng dụng cần gắn với chất lượng nội dung, bản quyền, tính xác thực và trách nhiệm của chủ thể sáng tạo.

Thực tế này đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế sáng tạo. Di sản không chỉ cần được lưu giữ mà còn cần được diễn giải, kể lại và chuyển hóa thành những sản phẩm có khả năng tiếp cận công chúng đương đại.

Một câu chuyện lịch sử có thể trở thành nội dung giáo dục số; một làn điệu dân ca có thể được giới thiệu qua nền tảng trực tuyến; tri thức nghề thủ công truyền thống có thể được khai thác trong thiết kế, sản phẩm sáng tạo và du lịch văn hóa. Những hướng đi ấy cần bảo đảm sự tôn trọng giá trị gốc, quyền lợi của cộng đồng chủ thể và tính bền vững trong khai thác.

Với văn hóa các dân tộc thiểu số, chuyển đổi số còn mang ý nghĩa thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận và hưởng thụ văn hóa. Việc lưu trữ ngôn ngữ, âm nhạc, nghi lễ, truyện kể, nghề thủ công và tri thức bản địa trên các nền tảng phù hợp có thể góp phần bảo vệ những giá trị đang đứng trước nguy cơ mai một.

Đồng thời, công nghệ tạo thêm cơ hội để cộng đồng chủ động giới thiệu di sản của mình, tham gia sáng tạo nội dung và kết nối với công chúng rộng lớn hơn. Quá trình này cần đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm, tránh việc khai thác dữ liệu tách rời bối cảnh văn hóa hoặc không bảo đảm quyền lợi của chủ thể di sản.

Để thực hiện mục tiêu đó, ngành văn hóa cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thống nhất tiêu chuẩn số hóa, tăng cường kết nối giữa các cơ quan, địa phương và thiết chế văn hóa.

Cùng với đầu tư hạ tầng, cần chú trọng đào tạo nhân lực có khả năng kết hợp kiến thức chuyên môn văn hóa với kỹ năng công nghệ, quản trị dữ liệu và sáng tạo nội dung số. Việc bảo đảm an toàn thông tin, quyền riêng tư, bản quyền và quyền tiếp cận cũng cần được đặt ra ngay từ khâu thiết kế hệ thống.

Một yêu cầu quan trọng khác là đánh giá hiệu quả chuyển đổi số bằng những thay đổi cụ thể. Số lượng hồ sơ được số hóa hay nền tảng được xây dựng là những chỉ số cần thiết, nhưng chưa đủ.

Cần quan tâm hơn đến mức độ dữ liệu được sử dụng, số lượng công chúng tiếp cận, chất lượng trải nghiệm, khả năng hỗ trợ công tác bảo tồn và giá trị mới được tạo ra cho cộng đồng, doanh nghiệp.

Chỉ khi dữ liệu văn hóa được đưa vào đời sống, trở thành nguồn lực cho giáo dục, sáng tạo và phát triển kinh tế, quá trình chuyển đổi số mới phát huy đầy đủ ý nghĩa.

Chuyển đổi số tạo thêm phương thức để những giá trị văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và phát triển - ảnh 6
Chuyển đổi số không thay thế giá trị cốt lõi của văn hóa, mà tạo thêm phương thức để những giá trị ấy được lưu giữ, lan tỏa và tiếp tục phát triển

Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 vì thế không chỉ là dịp nhìn lại những bước tiến về hạ tầng và công nghệ, mà còn là cơ hội để xác định rõ hơn mục tiêu lấy con người làm trung tâm, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.

Đối với ngành văn hóa, mục tiêu ấy càng cần được cụ thể hóa bằng khả năng gìn giữ di sản, mở rộng cơ hội hưởng thụ văn hóa, thúc đẩy sáng tạo và đưa những giá trị Việt Nam đến gần hơn với công chúng trong nước, quốc tế.

Chuyển đổi số không thay thế giá trị cốt lõi của văn hóa, mà tạo thêm phương thức để những giá trị ấy được lưu giữ, lan tỏa và tiếp tục phát triển.

Khi công nghệ gắn với nhu cầu của người dân, dữ liệu được chuyển hóa thành tri thức và tài nguyên văn hóa được khai thác có trách nhiệm, chuyển đổi số sẽ trở thành cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và sáng tạo, góp phần đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển đất nước.