Khi dữ liệu trở thành nền móng của bảo tồn di sản
VHO - Sáng ngày 1.10, Sở VHTT TP.HCM tổ chức Hội thảo “Số hóa di sản và dữ liệu văn hóa kiến tạo không gian sáng tạo và trải nghiệm thông minh”, bàn giải pháp số hóa đồng thời kết nối dữ liệu từ hiện vật, tư liệu, ký ức cộng đồng, qua đó mở rộng khả năng khai thác cũng như phát huy giá trị di sản trên môi trường số.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở VHTT TP.HCM, cho rằng chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
“Chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản không chỉ là việc đưa một số hình ảnh, tài liệu hay hiện vật lên môi trường Internet. Sâu xa hơn, đó là quá trình thay đổi phương thức quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, truyền thông và phát huy giá trị di sản trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số”, ông Nguyễn Minh Nhựt nhấn mạnh.
Thời gian qua, TP.HCM đã triển khai nhiều hoạt động số hóa di sản, ứng dụng công nghệ trong quản lý, trưng bày, giáo dục và truyền thông. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Minh Nhựt, quá trình này vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết, từ chuẩn hóa, liên thông dữ liệu đến nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, kinh phí, bản quyền, bảo mật và cơ chế khai thác dữ liệu.

Từ góc độ quản lý nhà nước, bà Phạm Thị Khánh Ngân, Chánh Văn phòng Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL) cho biết từ năm 2004 đến nay, Cục Di sản văn hóa đã xây dựng, nâng cấp và đưa vào hoạt động các phần mềm quản lý hệ thống thông tin, từng bước hướng tới cập nhật và quản lý dữ liệu số về di sản.
Nền tảng cơ sở dữ liệu di sản văn hóa hướng đến ba mục tiêu chính: hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về di sản; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ tổng hợp, nghiên cứu và bảo tồn; đồng thời tạo điều kiện để công chúng tiếp cận, khám phá và trải nghiệm di sản trên môi trường số.
Từ nền tảng dữ liệu đó, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), 3D, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) có thể mở rộng cách thức công chúng tiếp cận di sản. Tuy nhiên, các đại biểu cũng lưu ý công nghệ cần được kiểm soát chặt chẽ để không làm sai lệch thông tin, bóp méo lịch sử hoặc ảnh hưởng đến tính nguyên gốc của di sản.

Trong tham luận “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ thực tế ảo mở rộng trong đổi mới trải nghiệm di sản văn hóa”, ông Christopher Campbell Bryson, Giám đốc Công ty Infinite Muse, đề cập khả năng sử dụng dữ liệu 3D để tạo ra những trải nghiệm di sản đa chiều, tương tác và cá nhân hóa.
Theo ông, AI có thể hỗ trợ phân tích và đưa ra các gợi ý trong quá trình xây dựng nội dung, nhưng quyết định cuối cùng vẫn cần thuộc về những người có chuyên môn. “AI đưa ra gợi ý. Giám tuyển và chuyên gia bảo tồn quyết định”, ông nhấn mạnh.
Ông cũng lưu ý cần phân biệt rõ tư liệu được ghi nhận với phần tái dựng do AI tạo ra; đồng thời công khai nguồn dữ liệu, lưu giữ bản gốc và lịch sử phiên bản, tôn trọng bản quyền cũng như đặc thù của những di sản nhạy cảm về văn hóa.
Từ góc độ quản lý, ông Nguyễn Minh Nhựt nhấn mạnh: “Công nghệ không thay thế giá trị của di sản. Công nghệ phải phục vụ di sản, làm cho giá trị di sản được nhận diện, hiểu đúng và tiếp cận rộng rãi hơn”.
Theo ông, với AI cần đặc biệt quan tâm đến tính chính xác của thông tin, nguồn dữ liệu, bản quyền, bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm kiểm chứng. Đối với VR, AR, yếu tố công nghệ cũng cần được cân bằng với tính chân thực, nguyên gốc của di sản.

Thực tiễn tại bảo tàng đã được ThS. Lâm Ngô Hoàng Anh, Phó Giám đốc Phụ trách quản lý và điều hành Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh chia sẻ tại hội thảo, cho thấy yêu cầu này càng rõ nét khi công nghệ được ứng dụng vào những nội dung gắn với ký ức lịch sử.
“Hiện vật là linh hồn, công nghệ là cầu nối”, ThS. Lâm Ngô Hoàng Anh nhấn mạnh, đồng thời cho rằng công nghệ cần khơi gợi cảm xúc, tăng khả năng tiếp cận nhưng không được lấn át tính thiêng liêng của chứng tích lịch sử.
Từ thực tiễn hoạt động, đại điện Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh cũng đặt vấn đề tránh đầu tư các dự án công nghệ riêng lẻ dẫn đến phân mảnh dữ liệu. Thay vào đó, cần xây dựng cấu trúc dùng chung để các ứng dụng có thể liên thông, chia sẻ và tiếp tục phát triển.
Hiệu quả ứng dụng công nghệ cũng nên được đánh giá qua chất lượng trải nghiệm và mức độ tương tác của công chúng, thay vì chỉ dựa vào số lượng thiết bị được đầu tư.
“Công nghệ có thể làm lịch sử dễ tiếp cận hơn, nhưng không được biến ký ức chiến tranh thành hiệu ứng trình diễn hay giải trí hóa lịch sử”, ThS. Lâm Ngô Hoàng Anh nói.

Một hướng ứng dụng khác được đề cập tại hội thảo là công nghệ 3D Scanning. Việc quét và lưu trữ dữ liệu hình học giúp ghi nhận hiện trạng, phục vụ nghiên cứu, giám sát và bảo tồn di tích. Trong những trường hợp phù hợp, dữ liệu 3D còn có thể hỗ trợ phục dựng một số thành phần của di tích trên cơ sở tư liệu và dữ liệu được xác lập.
Không chỉ với di tích và bảo tàng, số hóa còn mở ra hướng tiếp cận mới đối với các loại hình di sản và tác phẩm nghệ thuật. Ở lĩnh vực di sản sơn mài, TS. Ngô Hồ Anh Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (Đại học Nam Cần Thơ), đề xuất quá trình từ tư liệu số đến trải nghiệm số và sáng tạo số.
Theo đó, việc chụp, quét hiện vật từ nhiều góc độ, ghi nhận cấu trúc bề mặt và chất liệu có thể tạo nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu, bảo tồn. Đồng thời, dữ liệu này mở ra khả năng xây dựng không gian trưng bày ảo, mô hình tương tác, giúp công chúng khám phá tác phẩm theo những phương thức mới.

Cũng tại hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn, khả năng khai thác và phát huy giá trị di sản trên môi trường số. Qua đó cho thấy, số hóa di sản không thể dừng ở việc tạo ra những sản phẩm công nghệ riêng lẻ, mà cần được triển khai theo một chuỗi thống nhất. Trong toàn bộ quá trình đó, công nghệ cần quay trở lại phục vụ mục tiêu bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản.
Phát biểu tổng kết, ông Nguyễn Minh Nhựt cho biết nhu cầu từ cơ sở hiện nay không chỉ là “số hóa những gì”, mà còn là lựa chọn tiêu chuẩn, xây dựng dữ liệu, lựa chọn công nghệ và bảo đảm dữ liệu có thể được cập nhật, quản lý, kết nối và khai thác lâu dài.
Theo đó, việc số hóa cần phù hợp với hiện vật gốc, điều kiện tài chính và nhân lực của từng đơn vị, đồng thời huy động nguồn lực xã hội thông qua các mô hình hợp tác, liên kết.

Mục tiêu không phải tạo ra thật nhiều sản phẩm công nghệ, mà từng bước hình thành hệ sinh thái văn hóa số, nâng cao hiệu quả quản trị, hỗ trợ bảo tồn và mở rộng khả năng tiếp cận di sản của công chúng.
Từ dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, công nghệ có thể trở thành cầu nối đưa di sản đến gần đời sống đương đại hơn, đồng thời mở thêm không gian cho nghiên cứu, sáng tạo và trải nghiệm mà không làm mất đi những giá trị nguyên gốc.

RSS