Đừng để im lặng che khuất tổn thương:

Kỳ cuối - Trách nhiệm phải được xác định đến cùng

THÚY HIỀN - THANH MAI

VHO - Bạo lực gia đình để lại những tổn thương dai dẳng cho người trong cuộc, đồng thời cho thấy những khoảng trống trong phát hiện, can thiệp và bảo vệ nạn nhân. Định kiến, tâm lý e ngại cùng sự im lặng vẫn khiến nhiều vụ việc khó được nhận diện sớm. Vì vậy, hiệu quả phòng, chống bạo lực gia đình phụ thuộc nhiều vào khả năng đưa chính sách vào thực tế, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng và bảo đảm người bị bạo lực được hỗ trợ kịp thời.

Kỳ cuối - Trách nhiệm phải được xác định đến cùng - ảnh 1
Gia đình hạnh phúc, không có bạo lực là nền tảng xây dựng cộng đồng bình đẳng, tiến bộ và văn minh (Ảnh minh họa)

Cộng đồng còn e ngại trước bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình tiếp tục là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh. Dù hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng được hoàn thiện, nhiều mô hình phòng ngừa, hỗ trợ nạn nhân đã được triển khai, thực tế tại các địa phương cho thấy việc phát hiện, can thiệp và ngăn chặn bạo lực vẫn còn không ít khó khăn. Đằng sau mỗi vụ việc là những tổn thương về thể chất, tinh thần, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và cơ quan chức năng.

Theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện (Bộ VHTTDL), tổng hợp từ báo cáo của các địa phương, năm 2025, cả nước ghi nhận 2.074 vụ bạo lực gia đình tại 34 tỉnh, thành phố, liên quan đến 1.941 hộ gia đình. Một số địa phương ghi nhận số vụ tương đối cao như Thanh Hóa 430 vụ, Phú Thọ 181 vụ, Nghệ An 172 vụ, Tuyên Quang 168 vụ… Trong số những người có hành vi bạo lực, 97 người bị xử lý hình sự, phạt tù; 109 người bị xử phạt vi phạm hành chính; 1.515 người bị góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư và 49 người bị buộc chấm dứt hành vi bạo lực.

Song song với xử lý người gây bạo lực, các địa phương triển khai nhiều biện pháp bảo vệ, chăm sóc và hỗ trợ nạn nhân. Năm 2025, có 1.224 người được trợ giúp pháp lý, tư vấn tâm lý, kỹ năng ứng phó với bạo lực gia đình; 539 người được hỗ trợ chăm sóc, điều trị. Đáng chú ý, 91 người được bố trí nơi ở tạm thời và hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu, góp phần bảo đảm an toàn trước nguy cơ tiếp tục bị bạo lực.

Công tác phòng ngừa tại cộng đồng cũng được tăng cường. Tính đến hết năm 2025, cả nước có gần 7.000 mô hình phòng, chống bạo lực gia đình theo chuẩn của Bộ VHTTDL; hơn 25.500 câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững và gần 30.000 nhóm phòng, chống bạo lực gia đình. Hơn 45.200 địa chỉ tin cậy tại cộng đồng được xây dựng, góp phần tiếp nhận thông tin và hỗ trợ người bị bạo lực.

Tuy nhiên, những con số này mới phản ánh các vụ việc được phát hiện, báo cáo và xử lý. Trong thực tế, bạo lực gia đình thường diễn ra sau cánh cửa khép kín, trong những mối quan hệ thân thuộc và bị che phủ bởi tâm lý coi chuyện gia đình là việc riêng. Chính điều đó khiến việc phát hiện sớm, can thiệp và phòng ngừa tại cơ sở gặp nhiều trở ngại.

Tại xã Nam Lý (Ninh Bình), bà Phạm Thị Hạnh, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết, dù số vụ bạo lực gia đình trên địa bàn có xu hướng giảm, công tác phòng, chống bạo lực gia đình vẫn đối mặt với một số khó khăn. Đời sống, nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin của người dân có sự khác biệt giữa các khu dân cư, vì vậy việc tuyên truyền, vận động phải được thực hiện thường xuyên, linh hoạt và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Thay đổi nhận thức về bình đẳng giới, cách ứng xử trong gia đình và trách nhiệm của mỗi thành viên vì thế vẫn là một quá trình lâu dài.

Theo bà Hạnh, một bộ phận người dân vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng gia trưởng, định kiến giới và tâm lý coi mâu thuẫn gia đình là chuyện riêng. Khi xảy ra bạo lực, người trong cuộc thường có xu hướng tự giải quyết hoặc im lặng, trong khi những người xung quanh còn e ngại can thiệp vào đời sống của gia đình khác. Một số nạn nhân chưa chủ động tìm kiếm sự trợ giúp vì lo ảnh hưởng đến con cái, kinh tế gia đình hoặc quan hệ làng xóm. Việc nắm bắt tình hình tại cộng đồng đôi khi chưa kịp thời, nhất là với những vụ việc diễn ra âm thầm, kéo dài.

Thực tế này cho thấy, bên cạnh hệ thống chính sách và các mô hình hỗ trợ, khoảng cách giữa nhận thức, sự lên tiếng của cộng đồng và khả năng tiếp cận trợ giúp của người bị bạo lực vẫn là một trong những khoảng trống cần được thu hẹp.

Không để khoảng trống trong quản lý

Phòng, chống bạo lực gia đình hiệu quả đòi hỏi phát huy đầy đủ vai trò quản lý nhà nước, từ hoàn thiện chính sách, hướng dẫn thực hiện, bồi dưỡng đội ngũ đến xây dựng dữ liệu, kiểm tra, giám sát và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.

Theo ông Khuất Văn Quý - Phó Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lĩnh vực này; Bộ VHTTDL chịu trách nhiệm trước Chính phủ, trong đó Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện là đơn vị tham mưu, giúp Bộ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Để chính sách thực sự đi vào đời sống, ông Quý cho rằng, cần phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa cơ quan chủ trì và các đơn vị phối hợp. Hiệu quả quản lý cũng cần được nhìn từ kết quả thực tế như chất lượng tiếp nhận tin báo, thời gian phản ứng, khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ, bảo mật thông tin và nguy cơ bạo lực tái diễn, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng hội nghị, tài liệu tuyên truyền hay mô hình được thành lập.

Một bước tiến đáng chú ý là việc Bộ VHTTDL kích hoạt Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình, đầu số 117. Tổng đài bổ sung thêm kênh hỗ trợ thiết thực cho người dân, đồng thời cụ thể hóa định hướng lấy người bị bạo lực làm trung tâm trong công tác bảo vệ, hỗ trợ và can thiệp.

Từ thực tiễn triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình năm 2026 với chủ đề “Chấm dứt bạo lực, vun đắp yêu thương”, truyền thông cần được duy trì như một nhiệm vụ thường xuyên, thay vì chỉ tập trung trong tháng cao điểm. Hoạt động hưởng ứng cần gắn với tập huấn kỹ năng, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, rà soát quy trình phối hợp và nhận diện những hạn chế về nhân lực, kinh phí, chế độ thông tin.

Sau mỗi đợt cao điểm, địa phương cần đánh giá cụ thể những khâu phản ứng còn chậm, đầu mối chưa rõ, dữ liệu còn thiếu và năng lực cán bộ cần được bổ sung. Đây là cơ sở để điều chỉnh cách tổ chức thực hiện, thay vì để những hạn chế tiếp tục lặp lại qua từng năm.

Công tác truyền thông cũng cần được triển khai đa dạng, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Bên cạnh báo chí, truyền hình, phát thanh, có thể khai thác các nền tảng Facebook, TikTok, YouTube, Zalo cùng podcast, video clip ngắn để mở rộng phạm vi tiếp cận, nhất là với giới trẻ và người lao động. Các hình thức sân khấu hóa, tiểu phẩm, hội thi, tọa đàm gắn với đời sống cộng đồng cũng có thể giúp thông điệp phòng, chống bạo lực gia đình trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận hơn. Việc ứng dụng công nghệ số và phân tích dữ liệu về hành vi tiếp nhận thông tin sẽ hỗ trợ đánh giá hiệu quả, từ đó điều chỉnh nội dung và phương thức truyền thông phù hợp với từng nhóm dân cư.

Cùng với đổi mới truyền thông, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu về phòng, chống bạo lực gia đình theo Nghị định số 110/2025/NĐ-CP được kỳ vọng góp phần khắc phục tình trạng thông tin còn phân tán giữa các cơ quan, địa phương. Dữ liệu cần vượt ra ngoài chức năng thống kê số vụ việc, hướng tới nhận diện địa bàn, nhóm đối tượng, dạng bạo lực và nguy cơ tái diễn. Đây sẽ là cơ sở để cơ quan quản lý phân bổ nguồn lực, điều chỉnh chính sách dựa trên bằng chứng.

Muốn làm được điều đó, các cơ quan phải thống nhất tiêu chí thu thập, trách nhiệm cung cấp, phạm vi khai thác và quy trình chia sẻ thông tin. Do dữ liệu liên quan đến những vấn đề nhạy cảm, việc kết nối phải đi cùng phân quyền, bảo mật danh tính và bảo vệ quyền riêng tư của người bị bạo lực.

Trong cơ chế phối hợp liên ngành, trách nhiệm của từng cơ quan cũng cần được xác định rõ. Chính quyền địa phương giữ vai trò điều phối trực tiếp, bảo đảm mỗi tin báo được tiếp nhận, chuyển gửi và theo dõi đến kết quả cuối cùng. Theo ông Quý, cần có đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp, cập nhật thông tin, kiểm tra việc thực hiện, đồng thời bảo đảm nhân lực, kinh phí và tập huấn chuyên môn. Nếu thiếu cơ chế phân công cụ thể, việc phối hợp rất dễ rơi vào tình trạng nhiều lực lượng cùng tham gia nhưng không đơn vị nào nắm đầy đủ diễn biến và kết quả xử lý.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu đặt ra là chuyển từ quản lý theo vụ việc sang một hệ thống phòng ngừa, ứng phó có quy trình rõ ràng, dữ liệu tin cậy và trách nhiệm được xác định đến cùng. Khi chính sách được thực thi đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, cộng đồng chủ động lên tiếng và người bị bạo lực tiếp cận được hỗ trợ kịp thời, những khoảng trống trong bảo vệ người dân mới từng bước được thu hẹp

Ý kiến bạn đọc