“Cồn quê xứ” và một số gương mặt thơ Bình Định
VHO - "Cồn quê xứ" (Nxb. Hội Nhà văn, 2025) là tập thơ chung của các nhà thơ đương đại Bình Định, gợi nhớ “Bàn thành tứ hữu” năm xưa. Điều thú vị không nằm ở việc in chung một tập thơ mà ở cộng cảm sâu sắc: văn hóa, quê hương, tình bằng hữu. Trên vùng đất hào sảng và khí khái, tập thơ mang đến tiếng nói riêng của những tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn, dịu nhẹ và lắng sâu.

Không biết khi in Cồn quê xứ (Nxb. Hội Nhà văn, 2025), các nhà thơ đương đại Bình Định có liên tưởng gì với nhóm “Bàn thành tứ hữu” năm xưa hay không, chỉ biết, trong không gian đương đại, việc in chung một tập thơ là một điều vô cùng thú vị.
Thú vị ở chỗ, vấn đề không phải một tập thơ (bởi điều này quá dễ), mà có lẽ ở rất nhiều cộng cảm: về văn hóa, văn chương, về tình yêu quê hương xứ sở, và về sự mến thương nhau đến độ, đương nhiên.
Nếu thơ là sinh quyển đặc biệt của tâm hồn thì Cồn quê xứ rất đúng với nhận xét ấy. Trên vùng đất hào sảng, khí khái, ngang tàng, Cồn quê xứ là tiếng nói riêng khác của những tâm hồn nghệ sĩ phong phú, lãng mạn, dịu nhẹ, lắng sâu.
Cồn quê xứ có sự góp mặt của 8 tác giả: Duyên An, Tường Chi, Nhiên Đăng, Lê Trọng Nghĩa, Vân Phi, Hồ Minh Tâm, My Tiên, Nguyễn Đặng Thùy Trang. Trừ Hồ Minh Tâm quê gốc Quảng Bình, còn lại các tác giả đều ở đất “Bình Định lắm duyên thi sĩ”.
Trong tập này, mỗi tác giả góp 10 bài, đặt tên chung cho phần thơ của mình, tạo thành một “tập con”. Với gia tài thi ca dồi dào của mỗi người, dĩ nhiên 10 bài được chọn khó có thể phản ánh trọn vẹn diện mạo sáng tạo, song lại hé mở nhiều đường nét gợi nhớ.
Bởi thế, Cồn quê xứ như một nét vẽ thoáng qua. Thoáng nhưng đọng. Ở một ý nghĩa nào đó, nó giúp bạn đọc bước đầu nhận diện những gương mặt thơ đương đại của đất Bình Định.
Đọc Cồn quê xứ, có thể nhận ra những gương mặt thơ giàu nội lực và cá tính. Điểm nhấn trong đây là sự trung thực của cảm xúc. Thơ trong Cồn quê xứ, dẫu đậm nhạt khác nhau, song đều có thi pháp già dặn, vững chãi (ngay cả những tác giả còn trẻ tuổi hoặc chưa nổi tiếng).
Không ai chạy theo hình thức rỗng nghĩa. Không ai làm dáng thơ ca. Ngay trường hợp đi xa nhất với đủ thứ hình thức “quái quậy” kiểu Hồ Minh Tâm cũng chọn ra những bài “đọc được” và có thể “được đọc”.
Chủ ý của người biên soạn tập thơ muốn độc giả hiểu thêm về đất và người, về những hồn thơ Bình Định hôm nay. Tên tập thơ, nhan đề, ngôn ngữ, thi ảnh trong các bài thơ được chọn cho thấy rất rõ điều đó.
Cồn quê xứ hội tụ nhiều điểm chung, nhưng mỗi người trong số đó đã tự vẽ nên gương mặt thi ca của riêng mình.
Duyên An - “Âm âm lời cổ tự”
Duyên An tên thật là Nguyễn Thị Nguyệt Trinh, sinh năm 1980, hiện sống và làm việc tại Bình Định. Duyên An đã xuất bản nhiều tác phẩm, chủ yếu là văn học thiếu nhi:Đậu Đậu, Sâu Sâu & Be Bé, Nếu một ngày chúng tớ biến mất, Nhạc sĩ đường phố... và đạt nhiều giải thưởng quan trọng: Giải Dế Mèn do Báo Thể thao & Văn hóa trao tặng năm 2023; Giải B Giải thưởng Sách quốc gia lần thứ VII năm 2024…
Đom đóm là nhan đề tuyển thơ của Duyên An. Khác với sự dung dị trong cách đặt tên ấy, thơ Duyên An lại chạm sâu vào những tầng vỉa văn hóa của một Bình Định cổ xưa. Đọc chị, có thể thấy từ nhan đề, thi liệu, hình ảnh đến ngôn ngữ đều châu tuần về một tiếng quê tha thiết, đậm sâu: Đồ Bàn, Cổ tự, Dưới chân tháp Dương Long, Đất vỡ, Giấc mơ cánh đồng, Vòng tay quê xứ…
Trong Đồ Bàn, những câu thơ ngân vang như khắc lại dấu ấn lịch sử và nỗi niềm đất cũ: “Rồi gạch vỡ, rồi rêu mòn bóng tháp/Tiếng chim gọi ngày mọc lên/Rồi xanh ngát chân đồi cỏ hát/Cỏ bạt ngàn dấu cỏ không tên/Tròn bóng nắng người giữ thành đi vắng/Bàn trà khua đắng đót lá me rơi/Chân nhẹ bước trầm hương dìu bảng lảng/Tiếng nghê thầm than quạnh phía xa xôi (…) Trăng Đồ Bàn đổ tràn ly thế cuộc/Đêm Đồ Bàn lành lạnh tiếng voi đi/Rượu Đồ Bàn vay một hồi cười khóc/Cỏ Đồ Bàn xanh tận gót thiên di.”
Thơ Duyên An có thi pháp vững vàng, giọng điệu vừa hiện đại vừa phảng phất nét cổ điển cùng nhiều so sánh, liên tưởng thú vị, độc đáo: “Thả từng câu rêu mềm bậc đá/Trải lời chim thong thả nhịp non ngàn/Từng bóng nắng loang nỗi niềm cô tịch/Gió mười phương thơm thoảng phiến u lan (…) Từng bước sóng âm âm lời cổ tự/Trong đá kia có tiếng biển rì rào/Xanh đã biếc giữa trập trùng xám bạc/Hạt muối người thôi mặn với xưa sau” (Cổ tự); “Đất nước thuở ấu thơ tôi/mang hình tổ chim dồng dộc/chiều chiều đong đưa rặng dừa trước nhà/em tôi nằm trong cánh võng đưa bằng lời ru của bà/ngọn gió thổi qua biển qua núi qua cánh đồng rười rượi không che chắn/đất nước mang hình ngọn gió/tôi lớn lên thành ngọn gió/bay đi” (Dồng dộc).
Tường Chi - “Trích dẫn nông sâu phận mình”
Tường Chi tên thật là Khổng Trường Chiến, sinh năm 1989 tại An Nhơn, Bình Định. Anh tốt nghiệp Cao đẳng Kinh tế - Đối ngoại TP. Hồ Chí Minh chuyên ngành Quản trị kinh doanh, hiện đang sinh sống, làm việc và tham gia hoạt động văn nghệ tại địa phương. Tác phẩm đã xuất bản: “Giấu thân vào nợ” (Nxb. Hội Nhà văn, 2019).
Thơ Tường Chi như một hồi ức về quê hương và thân phận. Quê hương với Tường Chi có khi là những trầm tích lịch sử bi hùng, có khi là nỗi đau còn vương trên gương mặt người thân.
Quê hương là nơi ấm áp thương yêu với hình cha, dáng mẹ, nhưng cũng là nơi vết thương lòng rỉ máu: “Cơn sốt trở về chiều ớn lạnh rong rêu/ai mặc giao lĩnh bước trên sa thạch?(…) Bàn chân thổi đốm lân tinh để thắp lửa gò cao/ngấm thảo mộc hắt từ đồng ruộng/Bàn chân náu dưới vòng eo thời cuộc/trở gót hồi hương sau lớp sương dày (…) Những bàn chân trần/từ thuở người khai sinh cho đất/ngón chân còn chưa chạm vào nhau” (Những bàn chân khai sinh cho đất); “Mẹ đắp da thịt con/bằng đầu gối của người thương binh/và/tiếng nấc của người đàn bà rong huyết/Mẹ/khâu sơ sinh con/bằng penicillin/và/nước sôi cả tuần bốc mùi kim tiêm đem trụng/Mẹ/cắt chỉ cho con/bằng vết bầm trên người/khi cha trái trời trở tính (…) Con thay áo/chiếc áo may bằng rong rêu trên mộ mẹ/ước rằng/nén nhang con thắp/vẫn còn thơm dẫu chỉ một vài năm” (Áo).
Có cảm giác, thơ Tường Chi như một bản tường trình xúc cảm. Nỗi cô quạnh đơn độc khi mất mẹ, mất cha, những suy tư về thân phận.
Thơ anh dường như không đến từ bản năng, mà từ sự nếm trải những cảm xúc đắng cay và chiêm nghiệm của chính mình: “Nửa thế kỷ ngồi bên bếp lửa/khói bay lên phác họa hình hài/quê hương như nắm cơm trong tay run rẩy/ôm cả cánh đồng/cả giấc mơ hòa bình thổi từ than ấm/người đàn bà/vo nhúm gạo cuối cùng nhìn về dãy núi xa xa” (Nếp nhăn của quê hương); “Đầu hè nhà mình/Đêm nay ngọn gió nam đã vào mùa thổi rộ/cứa vào con da diết cảnh mồ côi/bát hương thầm cháy lên cho nửa đời còn lại/Con sấp ngửa trở về/mặn ngọt với quê hương” (Phía đầu hè).
Nhiên Đăng - Tiếng thơ trên mặt đất
Nhiên Đăng tên thật là Trần Quốc Toàn, sinh năm 1992 tại Tuy Phước, Bình Định. Tác phẩm chính: Linh giác trắng (2023). Giải thưởng: Giải nhất cuộc thi Thơ năm 2023 của Tạp chí Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh.
Thơ Nhiên Đăng là thơ của người hay nghĩ, bởi thế, thơ anh có chủ đề đa dạng: quê hương, lịch sử, văn hóa, ký ức, đời sống đương đại.
Nhiên Đăng là một trong những gương mặt thơ đậm hồn quê nhất trong Cồn quê xứ, một “tiếng thơ trên mặt đất” với Bản quán, Bếp quê, Chiều trên đầm Thị Nại, Vẽ bức tranh quê, Đêm An Lão, Căn nhà xưa...
Thơ Nhiên Đăng khắc họa nổi bật những hình ảnh kỳ vĩ, trầm mặc, thiêng liêng, khơi gợi hoài niệm lịch sử và nét đặc trưng của văn hóa Bình Định, đồng thời chạm khắc tinh tế những dáng nét quê hương bình dị, gần gụi, thân thương, những ký ức đẹp đẽ xa xưa nay chỉ còn trong niềm nhớ: “Chim thần Garuda diệt rắn tháp Mẫm hiển bày vẻ đẹp văn hóa Chăm Pa/hay loài run rế nửa đêm rền rĩ trong đôi mắt buồn thăm thẳm/Chế Bồng Nga/nơi dòng Côn hợp lưu những hình bóng tháp thành, tuồng tích, phù sa, địa danh, giọng nói, lễ hội, con người…suốt bao thế kỷ” (Chiều trên đầm Thị Nại); “Đêm ngủ ở An Lão như nằm trong am thất/Vào mùa lễ hội ăn cúng lúa mới/Người chồng đệm đàn pơ lơng khơng cho người vợ hát/Bài hát năm xưa tiễn chồng đi bảo vệ biên giới Tây Nam/Chàng đi, để lại đôi mắt trẻ thơ sau ô cửa gỗ/Nơi con chim đầu rìu hót trên cây chòi mòi/Và đám dương xỉ bỏ bùa bầy gió lang thang/Xanh trong làn sương rét mướt…/Đêm ngủ ở An Lão như nằm trong am thất/Trong làn điệu ta lêu, ka choi/Tiếng đàn pơ răng dưới ngôi nhà sàn/Sau một ngày làm nương làm rẫy/Trẻ con ngồi quanh bếp lửa nghe già làng kể chuyện rừng thiêng/Bằng tiếng nói dân tộc mình…” (Đêm An Lão); “Bếp lửa vẽ dáng ngồi bà mẹ quê/Quơ thay là gặp chiếc rế, hũ nghệ, ống thổi lửa/Xung quanh chiếc đòn tre đụng đâu cũng là kí ức” (Bếp quê); “Trôi qua cánh đồng lúa/đàn bò gặm cỏ dưới bầu trời chớm gió/ngọn núi treo đám mây trắng như bông gòn/mùa hạ đã nhuộm nắng trên sông/con cò lép tìm mồi cúi lạy đất trời một điều gì không rõ” (Tiếng thơ trên mặt đất).
Thơ Nhiên Đăng không chỉ là tiếng nói nội tâm của cá nhân, mà còn là nỗ lực lưu giữ, phục dựng những trầm tích văn hóa trong ký ức cộng đồng, cũng là thông điệp của anh về quá khứ, thiên nhiên và những trăn trở, suy tư cho thực tại. Thi pháp thơ Nhiên Đăng già dặn, đều tay. Anh giỏi quan sát, lắng nghe và chạm khắc vào lòng người bằng những hình ảnh và ngôn từ tinh tế.
Lê Trọng Nghĩa - Thông điệp và dấu hỏi
Lê Trọng Nghĩa sinh năm 1970 tại An Nhơn, Bình Định, hiện là giảng viên mỹ thuật Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn. Anh đạt nhiều giải thưởng trong lĩnh vực mỹ thuật: Giải B (không có giải A) Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2013 và 2020; Giải B Triển lãm Mỹ thuật khu vực V năm 2020; Giải thưởng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2020; Giải thưởng tại các triển lãm mỹ thuật Khu vực V (Nam miền Trung - Tây Nguyên), cùng một số giải thưởng trong lĩnh vực âm nhạc.
Lê Trọng Nghĩa chủ yếu sáng tác với tư cách nhà điêu khắc và nhạc sĩ. Anh làm thơ như sự giải tỏa một không gian riêng khác của tâm hồn. Nhưng Lê Trọng Nghĩa không viết “thơ chơi”, mà trái lại, thơ anh luôn hàm chứa dấu hỏi, một thông điệp về cõi nhân sinh, về những buồn vui nhân tâm thế sự.
Có thể tìm thấy thi hướng này qua nhan đề, hình ảnh, cảm xúc và suy tư trong các sáng tác của anh: Chim trời và vết thương, Dấu tay, Hình hài từ những vết nứt, Con à, Tấm lưng cha, Sáp nhập như một cơn rùng mình, Chúng ta đang rơi…: “Còn ta/dệt bầu trời bằng những chiếc lưới bẫy/tham vọng cắt ngang ánh xanh/Cánh chim rơi giữa tiếng cười/bàn tay vỗ nhịp nhưng lòng đã hóa băng/Rồi một ngày lễ/những lồng chim bật mở/như cánh cửa địa ngục hé cho linh hồn bay đi/cánh vỗ tung trời/nhưng ai tháo gỡ xiềng xích trong lòng?” (Chim trời và vết thương); “Khi cơn gió thổi qua/lá cây rơi cũng có thể là khúc nhạc/nếu tai con biết nghe/Món ngon nhất/không phải ở hương vị/mà là khi bụng đói như cánh đồng khát nước/nếm gì con cũng thấy như mật ngọt (…) khi con sống với trái tim đầy hoa/mỗi bước chân con in trên đất/đều hóa thành đường về nhà” (Con à); “Tấm lưng cha oằn qua năm tháng/gánh trên mình trời nắng đất khô” (Tấm lưng cha); “Cha để lại dấu tay/trên vai con những lần tựa vào/Mẹ để lại dấu tay/trên vạt áo thấm mồ hôi/Còn ta, để lại gì?/Một vệt mờ trên cát?/Một chút ấm trên tay người lạ” (Dấu tay).
Lê Trọng Nghĩa có lối viết dung dị, chân thật. Anh không làm dáng chữ nghĩa mà chú trọng trao gửi thông điệp tư tưởng và những giá trị nhân văn. Thơ Lê Trọng Nghĩa cho thấy một thái độ và trách nhiệm của nhà thơ với thiên nhiên, cuộc đời, với những người thân yêu.
Trên một ý nghĩa nào đó, thơ anh còn là sự khao khát kết nối giữa cá nhân với tha nhân, với cội nguồn, với gia đình - nơi lưu giữ hương vị tình thân. Thơ anh cũng gửi những thông điệp sâu kín về thời gian, ký ức và về vai trò của người nghệ sĩ trong giữ gìn và truyền tải những giá trị văn hóa: “Người nghệ sĩ/đôi mắt nhìn thấu lớp men rạn/lắng nghe tiếng đất thì thầm/trong từng đường vân/là sóng gió/là mồ hôi của người thợ/đã qua một thời đại khác (…) Mảnh gốm cũ/không chỉ là gốm/mà trở thành câu chuyện -/tác phẩm không nằm yên trong bảo tàng/mà sống trong đôi mắt người tạo hình/rực sáng giữa đô thị ồn ào/nơi giấc mơ của đất/vẫn tiếp tục thắp sáng” (Mảnh gốm và hơi thở của đất).
Vân Phi - Thơ như là nhật ký tâm trạng
Vân Phi tên thật là Nguyễn Văn Phi, sinh năm 1990, quê An Nhơn, Bình Định, hiện đang công tác tại Tạp chí Văn nghệ Bình Định. Tác phẩm chính: Ngày mắc cạn (thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2020). Giải thưởng: Giải thưởng cuộc thi thơ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức năm 2015; Giải C sáng tác Văn học Bình Định mở rộng năm 2018-2019; Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật năm 2021 của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam.
Vân Phi viết thơ như là sự truy tìm ký ức cá nhân. Anh giỏi lắng nghe những rạn vỡ của thời gian, của kỷ niệm. Đầu tiên là xúc cảm nhớ thương hình bóng cũ: “Những bụi tre vàng nắng/những ngõ quê êm xanh/đôi lần ấm lên dấu chân kỷ niệm/Em về nguồn lá đôi môi/ba rót đầy rượu ngâm hoa cúc/tạ thổ thần ngàn năm chung thủy đất sành/sớm nay con về ngõ cũ/con đường như mới lên xanh...” (Ngõ xanh); “Dưới góc nhà khuya sớm/giếng gõ nhịp gàu/một ánh nhìn sâu/đáy khơi sắc nắng/cha múc bóng mình thắp những xưa sau” (Cỏ xanh về phía cũ).
Nhưng thơ Vân Phi cũng vọng động những tiếng nói thâm trầm của lịch sử, Thời gian lịch sử khi ấy được tâm trạng hóa, trở thành thời gian tâm trạng : “tiếng chuông cổ tự/ba trăm năm cuộc người/từ phía nào nghe thời gian rong rêu tường đỏ (…) tiếng chuông cổ tự/ba trăm năm cuộc người/bỗng vụt qua như tiếng lá rơi trên nền gạch thẫm/ngàn năm mây trắng vẫn bay/đền đài nào lặng dưới đất sâu/nghe loài côn trùng trẩy hội/ai đâu bắt gió trời giãn cách/chỉ có cái cúi đầu từ tâm nơi cửa Phật/ngả về đất từ bi…” (Giấc cổ tự).
Đọc Vân Phi, thấy nhân vật trữ tình trong thơ anh luôn phảng phất những âu lo đương đại: “tiếng sương đêm răng rắc/gãy vỡ câu hò trên triền quê thơ ấu/ngày tôi về quặn thắt/chẳng soi được bóng mình trên hố cát hoắm sâu/chẳng soi được bóng mình nữa đâu/dòng sông lở lói (…) tôi lại tìm bản thể đêm/thấy mình bị ký ức xưa rượt đuổi/ngã vào đêm hấp hối/những hố cát hoắm sâu nuốt chửng những mặt người” (Dòng sông mặc niệm).
“Ta đã cố gắng giam cầm ký ức/bằng lý trí/nhưng vô ích/hết thảy đã vuột khỏi lãnh giới tù ngục/khi giấc mơ ập bủa/Con người có lúc chối bỏ chính mình/vì đau đớn/vì nhục nhã/vì bội bạc/vì nuối tiếc (…) Ngủ nhé, đừng cố vùng vẫy đào thoát/trập trùng giấc mơ/ta chỉ là một kẻ đi lạc/trong ma trận của chính mình” (Giấc chiêm bao ngày tuyệt thực).
Ngoài những cảm xúc trữ tình cổ điển, thơ Vân Phi còn chất chứa những trạng thái cảm xúc phóng túng, phảng phất nét giang hồ lãng tử. Vân Phi chủ yếu làm thơ tự do. Tuy nhiên, đôi khi thơ anh xen cài những câu lục bát rất khoáng đạt và thú vị: “mấy bữa muốn ngồi cùng em một chút/ta lai rai quên hết chuyện trên đời/tu một phát, hết chai, cho khoái/biết mai này có đủ sức rong chơi” (Uống giữa chiêm bao); “nghe trong đồng đất nẩy mầm/lời cha dáng mẹ âm thầm bên con/ngồi lại nghe, nắng rất giòn/đổ vào vách nhớ vạnh tròn lóng tay/ta ngồi nhớ một cơn say/thấy mình ở trọ giữa ngày chiêm bao...” (Nghe trong đồng đất nẩy mầm)…
Hồ Minh Tâm - Những hiện hữu hoài nghi
Hồ Minh Tâm sinh năm 1966 tại Quảng Bình. Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Đà Nẵng năm 1990, Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh năm 1998. Làm việc trong lĩnh vực xây dựng dân dụng và công nghiệp, tư vấn thiết kế, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.
Hồ Minh Tâm có thời gian dài sinh sống và làm việc tại Bình Định. Anh từng đạt Giải thưởng thơ Văn nghệ Quân đội 2015-2016, giải Nhì (không có giải Nhất) Cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2021-2022. Tác phẩm đã xuất bản: Ngủ ở quán trà (thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2015).
Thơ, với Hồ Minh Tâm, trước hết là một trò chơi. Có lẽ bởi sự “xâm thực” của sự chơi nên khi đọc thơ anh, độc giả thường bối rối, không biết phải/nên “chơi” cùng nó thế nào, vì họ không/chưa hiểu hay chưa kịp “thỏa thuận” luật chơi cùng tác giả. Hồ Minh Tâm hiểu điều này, vì đây là sự lựa chọn chủ động của anh, về một trò chơi có rất ít người chơi và khán giả.
Tất nhiên, thơ Hồ Minh Tâm không thiếu những cảm xúc trữ tình cổ điển. Trong Cồn quê xứ, anh chủ yếu trình hiện những bài thơ mang cảm xúc trữ tình mang dáng dấp ấy. Có lúc, hẳn là những xúc cảm tinh khôi: “buổi sáng/tôi chở đêm qua chạy khắp tiếng cười/thơm thơm hương chè mạn, cà phê đâu đó/mùi vị đôi khi cũng thèm muốn hẹn hò (…) sớm mai, tôi thèm muốn mỗi sớm mai/lòng khấp khởi những toan lo nho nhỏ/và cuối ngày/vui như cậu bé vừa leo lên bậc thang cuối cùng sân thượng/vỗ tay khoe tiếng mặt trời…/ừ,/tôi muốn…/chỉ vậy thôi/cứ mỗi sớm mai lại bắt đầu ngày mới…” (Cứ mỗi sớm mai lại bắt đầu ngày mới).
Có khi là một chủ thể trữ tình đa cảm, đa mang, rất gần với con người tiểu sử của tác giả. Khi ấy, tiếng thơ Hồ Minh Tâm cũng ướt nhòe mặt giấy: “không/bé từ nay không còn cạnh nhà tôi nữa/Ba mẹ nó bỏ nhau rồi/theo Bà/nó về quê mẹ/tiếng khóc bé tôi thêm mấy lần hoang xa/buồn đau ơi/khi gia đình vỡ đôi/cả tiếng khóc trẻ thơ cũng cắt thành hai nửa/con ơi/về quê bớt khóc nhè con nhé/nửa tiếng khóc của con ta giữ lại đây rồi” (Một nửa tiếng khóc đêm).
Nhưng nổi trội hơn cả trong thơ Hồ Minh Tâm là những hiện hữu hoài nghi, hoang mang xúc cảm, hoang mang thân phận, đây đó phảng phất bóng hình của chủ nghĩa hư vô: “ừ nhỉ/giun dế, côn trùng/nhân loại/tất cả các ngài/sẽ chẳng còn bữa trưa/sẽ chẳng còn bóng tối/khi trái đất không còn ăn ánh mặt trời (…) cảm ơn đôi mắt/cảm ơn bóng tối/cảm ơn những gì chưa bao giờ thấy/chưa bao giờ có/không biết bao giờ có/đã sinh ra những hiện hữu hoài nghi” (Khi trái đất lười ăn nắng).
Nhưng thơ Hồ Minh Tâm không thuần, mà luôn “phá”. Phá từ xúc cảm đến thi pháp. Đến lúc này, thơ như một nửa khác trong nhân diện thơ đa chiều của anh: “ai đó hay em nghịch ngợm ném lên trời/một hòn sỏi ơ kìa hòn sỏi/hòn sỏi vi vu/hòn sỏi không biết nói/hòn sỏi không biết mình là hòn sỏi/ơ kìa hòn sỏi/rơi” (Tèng 1); “em không ngoảnh lại/vờ như trời vỡ chạm môi chuông/tiếng hoang mang vút cao thành cọc nhọn/người ngàn hướng/đi/phố ngàn tâm trạng/xoay/ơ hay/sao em không ngoảnh lại/tiếng chuông mờ/môi câm bặt/tèng” (Tèng 2); “con đê dài từ nhà ra bến sông/hai bờ dương xanh/con mương hợp tác/nước đỏ/tất cả không nói gì/mẹ tôi cấy tháng gặt ngày/lưng cong/cũng không nói gì/chỉ lúa là xanh” (Tèng 3); “hôm qua hắn mơ/hắn được nhân dân bầu làm lớp trưởng lớp thơ [thơ này chẳng phải thơ kia thơ chưa chứng minh nhân dân thơ/chưa hộ khẩu thơ này thơ ấy à bé dại]/thơ máy mó hay [g] cho [h]/đương nhiên/tèng thành tènh/tènh này nhấp nhóa như tình/hơi bị kinh/ký đầu mình một cái” (Tèng 4).
My Tiên - Mặt trời rạn nứt
My Tiên, tên thật Nguyễn Thị Mỹ Tiên, sinh năm 1993 tại Bình Định, là một nhà thơ trẻ đầy tiềm năng. Chị từng đạt giải Ba cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Bình Định (2020) và là đồng tác giả tập thơ Ký tự Nàng (2020).
Thơ My Tiên là thế giới ký ức, hoài niệm, những xúc cảm đối lập, những va đập, đứt gãy nội tâm, chút thoáng bất an, hoài nghi tồn tại, là nơi cái dữ dội, cái mong manh chạm nhau trong khoảnh khắc: “Bỗng dưng sóng đánh trong chén trà/Trời xô vào đất/Đất xô vào trời/Những đám mây nổ tung/Ngọn núi hoảng loạn/Mặt đất nứt ra như xương hàm hố thẳm/Anh cùng ký ức chìm dần/những chiếc lá còn ở lại/Run rẩy sợ cả giọt sương mai/Và em không biết mình có đang tồn tại?” (Thực tại khác).
Cảm xúc trữ tình trong thơ My Tiên pha trộn xen cài giữa cái riêng và cái chung, hiện tại và quá khứ, giữa cái nhìn lí tính với một cái tôi đa cảm, nhân văn. Thơ My Tiên giàu hình ảnh, biểu tượng, có chiều sâu. Giọng điệu tự sự nhẹ nhàng, day dứt.
Thơ chị cũng thể hiện cảm thức hiện sinh rõ nét, nhất là về con người trước biến động lịch sử và xã hội: “Anh kể: Quê mình đã xoá mất cái tên/Miền đất khác đè lên tim nhức nhối/Và ký ức thức giấc giữa xa xôi … Anh như bóng cây/Em như cọng cỏ/Nơi nào nằm xuống/Nơi ấy có quê” (Tên quê); “Những cánh én thoát khỏi bầu trời như thể/Chưa từng là gì của nhau/Cánh đồng mang thai cơn lũ/Như mênh mông sâu chứa một bầu trời (…) Có cụ già mắt trắng như sông/Có đứa trẻ thả thuyền trôi rã nát/Những bức tường ngấm màu lũ chia đôi/Những cõi lòng ngấm nước mắt lạnh căm” (Màu của lũ); “Quê tôi bao đời dệt chiếu/Khoảng sân buồn rực rỡ lác cỏ xanh/Tôi nhớ tấm mành che buồng thời con gái/Đến bạc màu chưa che tối tân hôn/Đôi chiếu anh mua/Đời cô không bán/Dành dụm yêu thương trên đôi chiếu đủ màu (…) Quê tôi giờ không còn ai mua chiếu/Cô vẫn miệt mài sợi lác mông lung…” (Đôi chiếu trắng).
Nguyễn Đặng Thùy Trang - Những bài tình đầu
Nguyễn Đặng Thùy Trang sinh năm 1993, quê quán ở Cát Hanh – Phù Cát, hiện sinh sống và làm việc tại Quy Nhơn – Bình Định. Tác phẩm đã xuất bản: Tập truyện ngắn Bay, NXB Văn Hóa Văn Nghệ TPHCM 2019; tập truyện thiếu nhi Xương cá biết nói, NXB Tổng Hợp TP HCM 2020; tập thơ in chung Ký Tự Nàng, NXB Hội Nhà văn 2020. Các giải thưởng: Giải thưởng Tác giả Trẻ của Liên Hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2019, Giải Khuyến khích thơ Cuộc thi Sáng tác văn học Bình Định mở rộng 2018-2019.
Có thể gọi thơ Nguyễn Đặng Thùy Trang là những bài tình đầu, bởi kiểu chủ thể trữ tình và nội dung cảm xúc. Tương hợp với chủ thể trữ tình (chủ yếu xưng “em”), cảm xúc trữ tình trong thơ chị phần lớn xoay quanh những đứt gãy mong manh trong tâm hồn người con gái: “Em như những ô cửa cứ thích khép mở/như bóng đèn vàng/bên ngoài trời lạnh/trong lòng đông sang” (Mùa đông của tôi); “Em nhìn nghiêng căn phòng/Căn phòng là trò chơi chao nghiêng (…) Em thả trôi mình ra biển/Hòa vào đại dương” (Biển).
Điều thú vị của thơ Thùy Trang không nằm ở cái mới của xúc cảm và thi pháp, mà ở sự nhẹ nhàng tinh tế trong quan sát, cảm nhận và đây đó phảng phất suy tư: “Chúng ta chờ trăng lên/Rừng im lặng/Lá không buồn nói/Tất cả thuộc về buổi chiều là dĩ vãng/Trăng tròn/Trăng lạnh/Khuyết lên chúng ta nỗi nhớ/Và ánh sáng màu xanh tràn ngập” (Chờ trăng lên); “Tự nhiên quên mất/Một hôn đã lạnh/Trong cái nhìn của em/Mưa rất nhiều ký ức” (Mưa ký ức); “Hải đi qua những con kiến như thiêu thân/Hải đội mưa dưới vùng trời u muội/Hải đã bước/Cơn mưa đầu đời ngập nước/Xác trôi nổi/Kiến cánh gục dưới chân đèn” (Hải); “câu đêm/còn gì lặng thầm hơn ý nghĩa hơn mà cũng vô nghĩa hơn/thả những luyến tiếc vào đời những hận thù bực dọc/người nhìn đêm con mắt/đêm nhìn người ngây ngây” (Câu đêm)…
Thơ ca, tự bản chất, là tiếng vọng sâu thẳm của tâm hồn con người. Cồn quê xứ tuy không khắc họa trọn vẹn diện mạo thi pháp của từng tác giả, nhưng đã phần nào hé mở gương mặt tinh thần của những nhà thơ nơi đất võ trời văn.
Đọc Cồn quê xứ, độc giả có thể cảm nhận được những tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, những suy tư lắng sâu về quê hương, đất nước và thân phận con người. Mỗi tác giả, theo cách riêng, đều gửi gắm một niềm yêu quê tha thiết.
Cồn quê xứ không chỉ là tiếng nói cá nhân, mà còn là lời nhắc nhớ về ý thức trách nhiệm với quá khứ, lịch sử, văn hóa và những vấn đề đương đại. Tập thơ phần nào cho thấy từ mảnh đất Bình Định đã nảy nở một mạch nguồn thi ca dồi dào, phong phú, những hồn thơ giàu nội lực, cá tính và thấp thoáng tài hoa.