Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam: Dấu mốc lập pháp mở đường cho văn hóa cất cánh

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hoá, Giáo dục của Quốc hội

VHO - Ngày 24.4.2026, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với 95,40% phiếu tán thành. Đây là dấu mốc lập pháp quan trọng giúp tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo nền tảng để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển bền vững, sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam: Dấu mốc lập pháp mở đường cho văn hóa cất cánh - ảnh 1
Quốc hội thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam. Ảnh: Trần Huấn

Từ nhận thức đúng về văn hóa đến quyết sách có sức nặng thể chế

Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ 95,40% số phiếu tán thành cho thấy sự đồng thuận rất cao của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đối với một vấn đề có ý nghĩa chiến lược: phát triển văn hóa không còn là nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa, mà là yêu cầu phát triển quốc gia.

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã khẳng định rất nhiều lần rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển; văn hóa còn thì dân tộc còn. Nhưng để những nhận thức đúng đắn ấy đi vào đời sống, cần có cơ chế, chính sách, nguồn lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Nghị quyết lần này chính là bước chuyển quan trọng từ “coi trọng văn hóa” sang “đầu tư, kiến tạo và vận hành văn hóa như một nguồn lực phát triển”.

Ngay Điều 1 của Nghị quyết xác định phạm vi điều chỉnh là “quy định một số cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam”. Cách đặt vấn đề rất ngắn gọn, nhưng hàm chứa một tinh thần mới: Nghị quyết không dừng lại ở việc nhắc lại vai trò của văn hóa, mà đi thẳng vào cơ chế. Đây là điều rất quan trọng, bởi điểm nghẽn lớn của văn hóa nhiều năm qua không chỉ nằm ở nhận thức, mà nằm ở khả năng chuyển hóa nhận thức thành hành động, thành nguồn lực và thành các công cụ chính sách có thể thực thi.

Tinh thần ấy rất phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: “Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới, không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai, luật không chỉ mở đường mà còn phải sửa đường”. Đặt trong mạch tư duy đó, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam chính là một quyết sách “mở đường” cho những mô hình mới, cơ chế mới và cách tiếp cận mới đối với văn hóa.

Điểm đầu tiên có ý nghĩa biểu tượng và xã hội sâu sắc là việc Nghị quyết xác lập ngày 24.11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Đây không chỉ là thêm một ngày nghỉ trong lịch quốc gia. Nếu được tổ chức tốt, Ngày Văn hóa Việt Nam sẽ trở thành một thiết chế tinh thần mới, một ngày hội để mỗi người dân trở về với di sản, với gia đình, với cộng đồng, với bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích, không gian sáng tạo, nghệ thuật dân gian và những giá trị làm nên bản sắc Việt Nam. Một quốc gia muốn có công nghiệp văn hóa mạnh phải có công chúng văn hóa rộng; muốn có thị trường văn hóa lành mạnh phải có thói quen văn hóa; muốn có sức mạnh mềm phải có niềm tự hào văn hóa được nuôi dưỡng thường xuyên trong đời sống nhân dân.

Điểm đột phá thứ hai là cam kết về nguồn lực. Nghị quyết quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Đây là một bước tiến rất lớn về chính sách.

Trong nhiều năm, văn hóa thường được nhắc đến với vị trí cao trong diễn ngôn phát triển nhưng lại gặp khó khăn khi phân bổ nguồn lực. Khi Quốc hội xác lập tỷ lệ tối thiểu, văn hóa có thêm nền tảng để thoát khỏi tình trạng “còn lại mới dành cho văn hóa”, chuyển sang vị trí được tính toán chủ động trong ngân sách quốc gia.

Tuy nhiên, 2% không nên được hiểu chỉ là tăng tiền cho văn hóa. Quan trọng hơn là đổi mới cách sử dụng nguồn lực văn hóa. Nguồn lực ấy phải được phân bổ cho những nhiệm vụ có sức lan tỏa: thiết chế văn hóa cơ sở, bảo tồn di sản có nguy cơ mai một, phát triển tài năng văn hóa nghệ thuật, số hóa di sản, cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, đặt hàng tác phẩm có giá trị cao, phát triển công nghiệp văn hóa, mở rộng tiếp cận văn hóa cho trẻ em, người yếu thế, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Nếu không đổi mới phương thức đầu tư, tăng ngân sách có thể dẫn tới dàn trải; nhưng nếu biết tổ chức tốt, đây sẽ là nguồn lực nền tảng để tạo chuyển động lâu dài.

Đặc biệt, Nghị quyết cũng khuyến khích huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa. Đây là hướng đi đúng, bởi văn hóa chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, nghệ sĩ, trí thức, trường đại học, người Việt Nam ở nước ngoài và công chúng cùng tham gia. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng, bảo đảm công bằng tiếp cận và bảo vệ lợi ích công cộng; xã hội góp sức bằng sáng tạo, đầu tư, thực hành, truyền dạy, tiêu dùng văn hóa và lan tỏa giá trị.

Khơi thông công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và thị trường sáng tạo

Một trong những điểm nổi bật nhất của Nghị quyết là cách tiếp cận văn hóa như một hệ sinh thái phát triển. Văn hóa không chỉ là di sản cần bảo vệ, mà còn là ngành kinh tế sáng tạo; không chỉ là ký ức quá khứ, mà còn là tài nguyên của tương lai; không chỉ là hoạt động công ích, mà còn là không gian của đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, công nghệ, thị trường và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết quy định hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa với ranh giới địa lý xác định, tập trung các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong công nghiệp văn hóa; liên kết không gian sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, sản xuất, phân phối, thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ văn hóa, tạo thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, giải trí đồng bộ, hiện đại, dựa trên nền tảng công nghệ cao và mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo.

Đây là điểm mới rất quan trọng, vì công nghiệp văn hóa không thể phát triển bằng những nỗ lực rời rạc. Nó cần hạ tầng, không gian, nhân lực, vốn, bản quyền, công nghệ, thị trường và sự kết nối giữa sáng tạo với thương mại hóa.

Cùng với đó, Nghị quyết quy định hình thành, phát triển tổ hợp sáng tạo văn hóa tại khu đô thị, khu dân cư, khu du lịch văn hóa, cụm, khu công nghiệp, nhà máy hoặc công trình được chuyển đổi công năng. Cách tiếp cận này mở ra khả năng tái sinh nhiều không gian đô thị, nhà máy cũ, công trình công nghiệp cũ, khu đất dôi dư thành không gian sáng tạo, biểu diễn, thiết kế, trưng bày, giáo dục trải nghiệm, khởi nghiệp văn hóa và du lịch sáng tạo.

Với Hà Nội, TP.HCM, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Đà Lạt, Hải Phòng, Quảng Ninh hay nhiều địa phương khác, đây là cơ hội để biến bản sắc thành nguồn lực phát triển mới.

Nghị quyết cũng có chính sách ưu đãi đầu tư khá cụ thể. Tổ chức, cá nhân đầu tư vào hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao cho văn hóa và một số ngành công nghiệp văn hóa trọng tâm như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử trên mạng có nội dung giáo dục, tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa lịch sử Việt Nam và mỹ thuật được hỗ trợ thuế thu nhập; trong đó có miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động văn hóa của doanh nghiệp; miễn thuế đối với một số khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn vào doanh nghiệp hoạt động văn hóa; miễn thuế thu nhập cá nhân 2 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo đối với tiền lương, tiền công của chuyên gia, nhà khoa học nhận được từ hoạt động văn hóa của doanh nghiệp .

Những chính sách này gửi đi một thông điệp rõ ràng: văn hóa là lĩnh vực cần được ưu đãi, doanh nghiệp văn hóa là chủ thể phát triển, chuyên gia và người sáng tạo là nguồn lực cần thu hút. Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực sáng tạo ngày càng gay gắt, chính sách thuế không chỉ làm giảm chi phí, mà còn tạo tín hiệu niềm tin cho nhà đầu tư, nghệ sĩ, kỹ sư công nghệ, nhà sản xuất, giám tuyển, chuyên gia bản quyền và các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo.

Một điểm rất có ý nghĩa là chính sách chuyển đổi số và hạ tầng văn hóa số. Nghị quyết quy định Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, hạ tầng văn hóa số và nền tảng số dùng chung; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số theo phương thức đối tác công tư; bảo đảm kinh phí để địa phương số hóa các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt.

Trong kỷ nguyên số, đây là một lựa chọn có tầm nhìn. Di sản, nghệ thuật, lễ hội, bảo tàng, thư viện, tri thức dân gian, hoa văn, ký ức cộng đồng, hiện vật và câu chuyện lịch sử nếu được số hóa đúng cách sẽ không chỉ được lưu giữ, mà còn có thể trở thành chất liệu cho giáo dục, du lịch, điện ảnh, trò chơi điện tử, thiết kế, truyền thông đa phương tiện và các sản phẩm sáng tạo mới.

Nghị quyết còn cho phép thí điểm các mô hình kinh doanh văn hóa mới gắn với nền tảng số như bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số và các thiết chế văn hóa số khác trong thời gian tối đa 5 năm. Đây là tinh thần rất cần thiết trong quản lý văn hóa hiện nay: cái mới cần được thử nghiệm có kiểm soát, được đánh giá, điều chỉnh, nhân rộng nếu hiệu quả và dừng lại nếu không phù hợp. Cách làm này phù hợp với yêu cầu lập pháp kiến tạo, không để pháp luật đi sau quá xa thực tiễn.

Đáng chú ý, Nghị quyết cũng đặt vấn đề bảo vệ an ninh văn hóa, bản quyền trên môi trường số và chủ quyền văn hóa số thông qua ứng dụng công nghệ số để giám sát, rà quét, đánh giá, xử lý thông tin xấu độc, tin giả, sai sự thật. Đây là nội dung rất thời sự. Không gian số đã trở thành môi trường văn hóa mới, nơi các giá trị được tạo ra, lan truyền, tranh chấp, bị bóp méo hoặc được tôn vinh. Nếu không có năng lực bảo vệ bản quyền, người sáng tạo khó sống bằng lao động sáng tạo. Nếu không bảo vệ chủ quyền văn hóa số, giá trị Việt Nam có thể bị lấn át, xuyên tạc hoặc phụ thuộc quá mức vào các nền tảng xuyên biên giới. Vì vậy, phát triển văn hóa số phải đi cùng xây dựng môi trường số lành mạnh, sáng tạo, an toàn và có khả năng lan tỏa giá trị tích cực.

Từ góc nhìn phát triển, những nội dung này cho thấy Nghị quyết đã tiếp cận công nghiệp văn hóa không phải như một khẩu hiệu, mà như một cấu trúc chính sách tương đối đồng bộ: có không gian sáng tạo, có hạ tầng số, có ưu đãi thuế, có cơ chế đầu tư, có mô hình thí điểm, có dữ liệu, có bản quyền, có doanh nghiệp và có thị trường.

Đây là cách để biến văn hóa từ “tiềm năng” thành “năng lực”, từ “bản sắc” thành “giá trị”, từ “di sản” thành “sản phẩm sáng tạo”, từ “câu chuyện Việt Nam” thành năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn quốc gia.

Để Nghị quyết đi vào cuộc sống: trách nhiệm giám sát, tổ chức thực thi và khát vọng văn hóa Việt Nam

Một nghị quyết có tầm vóc chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được tổ chức thực hiện nghiêm túc, sáng tạo và hiệu quả. Với Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam, thách thức phía trước không nhỏ.

Nhiều chính sách rất mới, như cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, đô thị di sản, khoán chi trong hoạt động sáng tạo, Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư và quỹ đầu tư mạo hiểm, hạ tầng văn hóa số, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa - sáng tạo nội dung số… đều cần văn bản hướng dẫn rõ, tiêu chí minh bạch, cơ chế thực thi linh hoạt và năng lực quản trị phù hợp.

Đây cũng là lúc vai trò của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội cần được phát huy mạnh mẽ, không chỉ ở khâu bấm nút thông qua, mà còn ở giám sát việc thực hiện.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu “nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả”; giám sát không chỉ để phát hiện hạn chế, mà phải góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, cảnh báo sớm rủi ro, thúc đẩy bộ máy hành động đúng, nhanh và hiệu quả. Tinh thần đó rất cần được vận dụng vào quá trình triển khai Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam.

Trước hết, cần giám sát việc bảo đảm tỷ lệ chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa. Đây là quy định then chốt, nhưng nếu không giám sát, rất dễ xảy ra tình trạng tính toán chưa thống nhất, phân bổ chưa đúng trọng tâm hoặc chi cho văn hóa nhưng hiệu quả văn hóa chưa rõ.

Cần theo dõi ngân sách đó được dùng vào đâu, có đến được thiết chế cơ sở không, có hỗ trợ được nghệ thuật truyền thống không, có giúp số hóa di sản không, có tạo thêm sản phẩm sáng tạo không, có nâng cao quyền tiếp cận văn hóa của người dân không.

Thứ hai, cần giám sát việc triển khai các ưu đãi đầu tư, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa và hạ tầng số. Ưu đãi phải đến đúng đối tượng, tránh bị lợi dụng dưới danh nghĩa văn hóa để phục vụ lợi ích bất động sản hoặc thương mại thuần túy. Không phải dự án nào gắn nhãn “sáng tạo” cũng là dự án công nghiệp văn hóa.

Cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa phải có cộng đồng sáng tạo, sản phẩm sáng tạo, hoạt động nghiên cứu - phát triển, ươm tạo, thử nghiệm, thương mại hóa và đóng góp thực chất cho đời sống văn hóa.

Thứ ba, cần giám sát quá trình bảo tồn di sản, phát triển đô thị di sản và hồi hương bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm. Nghị quyết có chính sách miễn thuế nhập khẩu, phí hải quan, không chịu VAT đối với tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa Việt Nam đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm ở nước ngoài được đưa về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày hoặc chuyển giao cho Nhà nước; đồng thời thí điểm đô thị di sản đến hết năm 2035 .

Đây là cơ hội lớn, nhưng cũng đòi hỏi quản trị tinh tế để bảo tồn không bị thương mại hóa thô bạo, đô thị di sản không trở thành phông nền du lịch, và cộng đồng cư dân không bị đẩy ra ngoài quá trình phát triển.

Thứ tư, cần đặc biệt quan tâm đến chính sách nhân lực văn hóa, nghệ thuật và thể thao. Nghị quyết cho phép tuyển dụng không qua thi tuyển đối với một số trường hợp tài năng đặc biệt; quy định phụ cấp ưu đãi nghề, bồi dưỡng luyện tập, biểu diễn; hỗ trợ đào tạo lại cho nghệ sĩ một số lĩnh vực khi hết tuổi nghề; đào tạo nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số, giám tuyển, giám định tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, di sản. Đây là những chính sách rất nhân văn và rất cần thiết. Bởi nếu không chăm lo người giữ lửa văn hóa, mọi chính sách bảo tồn đều có nguy cơ mất đi chủ thể sống động nhất.

Bên cạnh đó, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam mở ra một hướng đi rất mới với Quỹ văn hóa, nghệ thuật. Quỹ được thí điểm ở trung ương và một số địa phương, hoạt động theo mô hình hợp tác công tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm, chấp nhận khả năng rủi ro, nhằm tài trợ, hỗ trợ, đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chương trình, dự án văn hóa, nghệ thuật có tính sáng tạo đột phá, có tiềm năng thị trường, khả năng thương mại, lan tỏa và tác động xã hội mà không được ngân sách nhà nước cấp kinh phí.

Nếu triển khai tốt, đây có thể là “vốn mồi” cho sáng tạo, giúp lấp khoảng trống giữa ngân sách công và thị trường thương mại. Nhưng chính vì là mô hình mới, cần thiết kế cơ chế quản trị công khai, minh bạch, có hội đồng chuyên môn độc lập, có kiểm toán, có tiêu chí đánh giá tác động văn hóa - xã hội, tránh biến quỹ thành cơ chế xin - cho trá hình.

Ở tầm rộng hơn, Nghị quyết lần này gợi mở một cách hiểu mới về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình. Văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn, mà còn là năng lượng phát triển; không chỉ là ký ức, mà còn là sáng tạo; không chỉ là bản sắc, mà còn là năng lực cạnh tranh; không chỉ là giá trị tinh thần, mà còn là nguồn lực kinh tế, ngoại giao, giáo dục và công nghệ.

Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu “đặt phát triển văn hóa - xã hội và xây dựng con người… ở vị trí nền tảng, động lực nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững”, đồng thời “biến văn hóa thành nguồn lực phát triển thông qua công nghiệp văn hóa, du lịch thông minh, giáo dục trải nghiệm”. Dù phát biểu trong bối cảnh làm việc với một địa phương, tinh thần ấy có ý nghĩa chung đối với mô hình phát triển đất nước.

Vì vậy, điều quan trọng sau ngày 24.4.2026 là không để Nghị quyết chỉ dừng lại ở niềm vui của một phiên biểu quyết thành công. 95,40% số phiếu tán thành là sự đồng thuận rất lớn, nhưng cũng là trách nhiệm rất lớn.

Trách nhiệm ấy thuộc về Chính phủ trong việc hướng dẫn thực hiện; thuộc về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với vai trò đầu mối quản lý nhà nước về công nghiệp văn hóa; thuộc về các địa phương trong việc cụ thể hóa chính sách phù hợp với bản sắc và điều kiện của mình; thuộc về Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giám sát; thuộc về cộng đồng nghệ sĩ, trí thức, doanh nghiệp, nhà trường, gia đình và mỗi người dân trong việc làm cho văn hóa sống động hơn trong đời sống.

Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam là một quyết sách mở đường. Nhưng con đường ấy chỉ rộng mở thật sự khi chính sách đi vào cuộc sống, khi thiết chế văn hóa cơ sở sáng đèn, khi trẻ em đến bảo tàng nhiều hơn, khi nghệ sĩ sống được bằng nghề, khi nghệ nhân có người kế tục, khi di sản được hồi sinh trong cộng đồng, khi doanh nghiệp văn hóa có môi trường đầu tư thuận lợi, khi sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn ra thế giới, khi không gian số trở thành môi trường lan tỏa giá trị tích cực, và khi mỗi người dân cảm thấy văn hóa không xa lạ, không hình thức, mà là một phần thiết thân của đời sống hằng ngày.

Từ nghị trường đến đời sống, từ văn bản đến hành động, từ ngân sách đến sản phẩm, từ di sản đến sáng tạo, từ bản sắc đến sức mạnh mềm - đó là hành trình mà Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam mở ra. Nếu được triển khai với tinh thần kiến tạo, trách nhiệm và khát vọng, Nghị quyết này sẽ góp phần đưa văn hóa trở thành sức mạnh bên trong của dân tộc, nền tảng xây dựng con người Việt Nam toàn diện và động lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc trong kỷ nguyên mới.