Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Khởi sắc mùa Xuân từ mạch nguồn văn hóa
VHO - Trong không khí hân hoan chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, giữa sắc xuân rực rỡ trước thềm năm mới Bính Ngọ, với tinh thần nhìn lại để tiến xa hơn, toàn ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng điểm lại chặng đường đã qua để thấy rõ những việc đã làm được, những điều còn băn khoăn, trăn trở, từ đó nuôi dưỡng quyết tâm vươn lên mạnh mẽ hơn trong nhiệm kỳ mới.
Sau nhiệm kỳ 2020-2025 với nhiều dấu ấn, toàn ngành tiếp tục quán triệt phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Tinh gọn - Chuyên nghiệp - Phát triển”, nêu cao tinh thần “Văn hóa là nền tảng - Thông tin là mạch dẫn - Thể thao là sức mạnh - Du lịch là nhịp cầu kết nối”, quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vững bước tiến vào kỷ nguyên mới của dân tộc, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 - khi Đảng ta tròn 100 năm, hướng tới tầm nhìn năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước.

Dấu ấn nhiệm kỳ
Bộ và ngành VHTTDL đã tạo bước chuyển căn bản về tư duy lãnh đạo, nhận thức và hành động; kiên định bám sát quan điểm chỉ đạo của Đảng, nắm vững định hướng của Văn kiện Đại hội XIII và chính sách pháp luật của Nhà nước; triển khai nhiều giải pháp kịp thời, đúng và trúng nhằm phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam để: “Văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh và là động lực to lớn, hệ điều tiết sự phát triển xã hội bền vững”. Những nỗ lực đó được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận qua đánh giá đầy cổ vũ: “Văn hóa tiếp tục được quan tâm và chưa bao giờ văn hóa đạt được nhiều kết quả quan trọng như trong thời điểm này”.
Ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ, Ban Cán sự Đảng, Đảng ủy và lãnh đạo Bộ đã tập trung nhiều thời gian, trí tuệ, trăn trở, chủ động đề xuất với các giải pháp căn cơ, xác lập tư duy quản trị hiện đại với tinh thần đổi mới, sáng tạo và khoa học. Bộ kiên quyết chuyển từ tư duy “làm văn hóa” sang “quản lý văn hóa bằng pháp luật, thể chế và chiến lược mang tính kiến tạo”, để văn hóa thực sự trở thành “sức mạnh mềm bên trong, là nguồn lực nội sinh, hệ điều tiết sự phát triển bền vững đất nước”. Từ yêu cầu cấp thiết đó, Bộ đã tham mưu Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II (24.11.2021) - sự kiện được ví như “Hội nghị Diên Hồng về Văn hóa”.
Từ kết quả của Hội nghị đã tạo nên sự chuyển dịch toàn diện và căn bản về chất. Công tác tuyên truyền về sứ mệnh, vị trí và vai trò của văn hóa được đẩy mạnh theo hướng chiều sâu; các diễn đàn, hội thảo, nghị quyết chuyên đề, đề án và chương trình phát triển văn hóa, con người được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở. Văn hóa theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp chưa bao giờ được quan tâm sâu sắc như thời gian vừa qua; được nhắc nhớ, thực hành và lan tỏa trong mọi chiều cạnh của đời sống, ở mọi không gian và thời điểm. Điều rất đáng trân trọng là hầu hết các tỉnh, thành phố đã ban hành nghị quyết chuyên đề, chương trình, kế hoạch phát triển văn hóa, con người gắn với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, với nhiều chỉ tiêu mang tính đột phá. Trên bình diện quốc gia, mức đầu tư cho văn hóa năm sau cao hơn năm trước; tại nhiều địa phương, tỉ lệ đầu tư dành cho văn hóa đạt 3-4% tổng ngân sách. Tại nhiều hội nghị, diễn đàn và đặc biệt trong các kỳ họp của Quốc hội khóa XV, vấn đề văn hóa được thảo luận sôi nổi, phân tích sâu sắc… tạo nên mạch nguồn cảm hứng, khơi dậy sức mạnh nội sinh để điều tiết và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện thể chế của Ngành được tăng cường, vận hành đồng bộ, có lộ trình bài bản, khoa học, từng bước lấp đầy những khoảng trống pháp lý; tạo dựng và khơi thông nguồn lực để văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch phát triển mạnh mẽ. Trong 5 năm qua, Bộ đã tham mưu Quốc hội, Chính phủ và ban hành theo thẩm quyền 146 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 7 dự án Luật, 37 Nghị định của Chính phủ, 1 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và hơn 100 Thông tư, Thông tư liên tịch. Đặc biệt, Bộ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, một chương trình mang tính dài hạn, đồng bộ, tạo nền tảng căn cơ cho văn hóa phát triển bền vững.
Với mong muốn tiếp tục “tạo đường thông, hè thoáng” cho sự phát triển của ngành, trên tinh thần dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng cùng các định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ đã tập trung trí tuệ tham mưu Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ xây dựng và trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết “Về phát triển văn hóa Việt Nam”. Ngày 7.1.2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Sự ra đời của Nghị quyết nhằm tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt”, mở rộng không gian phát triển bằng các nhiệm vụ và giải pháp đột phá, đưa văn hóa và con người Việt Nam thực sự trở thành hệ điều tiết sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong bối cảnh đất nước chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, tinh gọn tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Bộ đã chủ động thích ứng bằng cách đổi mới phương thức quản lý, hành động theo phương châm: “Bộ hướng dẫn, Sở đồng hành vì một sứ mệnh chung”. Trên tinh thần đó, Bộ đã tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật quy định về phân cấp, phân định thẩm quyền giữa hai cấp chính quyền trong các lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch; đồng thời hoàn thiện quy trình, thủ tục để việc phân cấp được triển khai thống nhất, thông suốt. Song song với đó, Bộ đã phát hành Bộ Cẩm nang hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ phân cấp, phân định thẩm quyền cho UBND cấp xã trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Bộ tài liệu này trở thành công cụ quan trọng giúp chính quyền cơ sở nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, đồng thời phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, thiết thực hơn.
Công tác xây dựng môi trường văn hóa gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai sâu rộng. Trên bình diện quốc gia, vùng miền nhiều mô hình xây dựng môi trường văn hóa gắn với triển khai xây dựng “Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới” trong mỗi gia đình, dòng họ, làng xã, khu dân cư, tổ dân phố, cơ quan báo chí, doanh nghiệp, doanh nhân… được hình thành, phát triển và lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng; với hàng ngàn hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình Văn hóa; hàng trăm xã đạt chuẩn văn hóa - nông thôn mới và ngày càng xuất hiện nhiều cơ quan, đơn vị thực hiện mô hình văn hóa công sở kiểu mẫu. Những con số ấy không chỉ phản ánh kết quả phát triển, mà còn cho thấy quan điểm “môi trường văn hóa là gốc” đã đi vào thực tiễn.
Nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa được tăng cường với cách tiếp cận: “Biến di sản thành tài sản”, Bộ đã tham mưu ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp luật về di sản văn hóa, với điểm nhấn quan trọng là Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) được Quốc hội thông qua đúng vào Ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23.11.2024. Những năm qua, hệ thống di sản văn hóa được khơi thông mạnh mẽ, tạo độ mở rộng chưa từng có, giúp di sản vật thể và phi vật thể từng bước trở thành sản phẩm hàng hóa đặc biệt, thúc đẩy các ngành du lịch, điện ảnh… phát triển nhanh và vững. Với nhiều nỗ lực và cách làm sáng tạo đến nay Việt Nam đã có 37 Di sản văn hóa được UNESCO ghi danh (gồm 9 di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới; 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu); nhiều lễ hội được phục dựng; nhiều di tích được số hóa; các thiết chế văn hóa, đặc biệt là các nhà hát truyền thống, được đầu tư nâng cấp hoặc xây mới. Việt Nam liên tục được các tổ chức quốc tế xếp hạng, tôn vinh là “Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới”, khẳng định vị thế và sức hấp dẫn đặc biệt của văn hóa Việt Nam trên bản đồ di sản toàn cầu.

Một trong những nhiệm vụ và giải pháp mang tính căn cơ là nâng tầm các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao… do Bộ chủ trì, để mỗi sự kiện không chỉ đạt chuẩn về quy mô và tầm vóc mà tạo thành điểm nhấn để làm mẫu, làm điểm, dẫn dắt, định hướng cho địa phương. Theo đó, hằng năm Bộ đã tổ chức hàng chục chương trình đại nhạc hội, sự kiện văn hóa, nghệ thuật mang tầm quốc gia và có tính chất quốc tế. Nhiều sự kiện chưa từng có tiền lệ trong lịch sử cả về quy mô, mức độ, tính chất. Tiêu biểu như chuỗi sự kiện kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (A70); 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 50 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (A50), 80 năm Quốc khánh Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (A80), Triển lãm: “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đến những lễ hội, hội chợ văn hóa rực rỡ sắc màu trải dài khắp mọi miền đất nước… tất cả đã tạo nên một bức tranh sống động về tinh thần Việt Nam kiên cường, bất khuất, đổi mới, sáng tạo và giàu bản sắc.
Với những mũi nhọn như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, báo chí, phát thanh truyền hình, xuất bản và du lịch văn hóa - các ngành công nghiệp Việt Nam đang trở thành nguồn lực mới của tăng trưởng và chưa bao giờ được hiện hữu với tần suất, quy mô, chất lượng và tính lan tỏa cao như trong giai đoạn vừa qua, nhất là năm 2025. Giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2025 ước đạt hơn 1,059 triệu tỉ đồng (44 tỉ USD), tốc độ tăng trưởng trung bình 7,2%/năm, đóng góp tích cực vào GDP quốc gia. Điện ảnh Việt Nam tiếp tục phát triển, hàng loạt bộ phim đạt doanh thu trên 100 tỉ (Mai, Thám tử Kiên, Địa đạo, Tử chiến trên không...), tiệm cận gần 800 tỉ (Mưa đỏ), các cuộc liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp được tổ chức từ cải lương, chèo, tuồng, kịch nói cho đến âm nhạc khu vực ASEAN, châu Á và thế giới với quy mô ngày càng lớn, nơi tài năng nghệ sĩ được tỏa sáng và văn hóa truyền thống được tiếp nối, trao truyền. Mỗi năm, hơn 1.000 triển lãm mỹ thuật và nhiếp ảnh diễn ra trên khắp cả nước, mang hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế.
Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa đối ngoại, Bộ đã quyết liệt chỉ đạo chuyển mạnh từ tư duy “gặp gỡ, giao lưu” sang “hợp tác đích thực”. Theo đó, các thỏa thuận hợp tác quốc tế về văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch đã được ký kết ở nhiều cấp độ. Văn hóa, nghệ thuật Việt Nam ngày càng hiện diện sâu đậm tại các diễn đàn song phương và đa phương; lần đầu tiên Việt Nam đảm nhiệm vai trò tại 6 cơ chế điều hành then chốt của UNESCO. Trong những năm qua, Bộ đã tổ chức hàng trăm Tuần/Ngày văn hóa, lễ hội văn hóa, du lịch, điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài và của các quốc gia trên thế giới tại Việt Nam, tạo nhịp cầu gắn kết và lan tỏa bản sắc Việt Nam tới bạn bè năm châu. Đặc biệt, năm 2025, từ đề xuất của Việt Nam, ngày 8.11.2025, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững”. Đây là dấu mốc có ý nghĩa sâu sắc, gửi đi thông điệp mạnh mẽ về khát vọng chung tay kiến tạo một thế giới hòa bình, thịnh vượng và nhân văn trên nền tảng tăng cường hợp tác văn hóa toàn cầu.
Mặc dù trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, cơ sở vật chất, nhưng trong những năm qua, thể thao Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Thể thao thành tích cao tiếp tục phát triển theo hướng có chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm và đạt thành tích tốt tại các đấu trường khu vực, châu lục và thế giới. Hai kỳ SEA Games 31 và 32, Việt Nam đều đứng đầu trong bảng tổng sắp huy chương. Đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam lần đầu tiên giành quyền tham dự World Cup 2023 và hàng trăm tấm huy chương danh giá mà biết bao vận động viên, biết bao đội tuyển Quốc gia đã dành được tại các đấu trường lớn, uy tín trên khắp thế giới đã khẳng định vị thế của thể thao nước nhà.
Song song với đó, thể thao cho mọi người gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục đạt được những kết quả thực chất cả về chiều rộng và chiều sâu, tạo tiền đề ươm mầm, chắp cánh cho thể thao thành tích cao. Nhiều môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian được các địa phương khôi phục, đưa vào thi đấu tại các lễ hội truyền thống. Phong trào thể dục thể thao người khuyết tật được chú trọng và giành được nhiều thành tích cao tại trường quốc tế. Đến năm 2025, trên 38% dân số thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, góp phần tích cực xây dựng một xã hội khỏe mạnh, hạnh phúc và đầy khát vọng của một Việt Nam hùng cường.
Du lịch Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những thành tựu ấn tượng, trở thành điểm sáng nổi bật trong bức tranh kinh tế, xã hội của đất nước sau đại dịch Covid-19. Bộ đã kịp thời tham mưu cho Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiều chủ trương đột phá về visa, thị thực; phát triển điểm đến an toàn, hấp dẫn; xây dựng sản phẩm du lịch độc đáo, đặc sắc; đẩy mạnh xúc tiến thị trường trọng điểm theo hướng chuyên nghiệp, gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu và thế mạnh về thiên nhiên, điện ảnh, nghệ thuật, di sản và con người thân thiện. Nhờ đó, du lịch bứt phá, đóng góp ổn định 6-8% GDP/năm. Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đón gần 55 triệu lượt khách quốc tế; riêng năm 2025 lần đầu tiên vượt 20 triệu lượt khách, trở thành mốc son của ngành. Khách nội địa đạt gần 500 triệu lượt, đưa tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 3.200.000 tỉ đồng. Năng lực cạnh tranh du lịch tăng 28 bậc, đứng thứ 59/119 nền kinh tế (WEF 2024). Việt Nam nhiều năm liền được vinh danh bởi các giải thưởng du lịch quốc tế, khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn hàng đầu khu vực và thế giới.
Lĩnh vực báo chí, truyền thông và xuất bản thời gian qua đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần tạo nên diện mạo mới của đời sống thông tin quốc gia. Bộ đã tập trung tham mưu Chính phủ sửa đổi Luật Báo chí và trình Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10, với nhiều chính sách mang tính đột phá theo tinh thần kiến tạo, hướng tới nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Báo chí, truyền thông, xuất bản đã và đang đảm nhiệm hiệu quả vai trò dân chủ hóa đời sống xã hội; phát hiện, lan tỏa các mô hình hay, cách làm sáng tạo; đồng thời tuyên truyền kịp thời các chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân. Báo chí còn góp phần hun đúc lòng yêu nước, gìn giữ truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc; tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phản bác các luận điệu sai trái, tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Xuất bản tiếp tục đổi mới toàn diện về tư duy, phương thức xuất bản - phát hành, mở rộng tiếp cận bạn đọc trên các nền tảng số theo hướng dân tộc hóa - đại chúng hóa - hiện đại hóa. Từng bước, báo chí và xuất bản đã trở thành bộ phận quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa và đang tiếp tục thực hiện tốt sứ mệnh: “Đi trước mở đường - Đi cùng thực hiện - Đi sau tổng kết”.

Những bài học được rút ra
Bên cạnh những thành tựu, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng thẳng thắn nhìn nhận còn không ít khó khăn, thách thức: Một số bất cập trong thể chế, chính sách chậm được khắc phục; xây dựng môi trường văn hóa còn chưa đồng bộ; nguồn lực đầu tư cho văn hóa còn thấp, phân tán; thể thao thành tích cao chưa ổn định; du lịch thiếu tính kết nối vùng miền, chưa có nhiều sản phẩm mang tầm đẳng cấp, khác biệt; báo chí chịu sức ép lớn của chuyển đổi số và cạnh tranh thông tin; chất lượng đội ngũ có nơi, có lúc chưa đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh bộ máy tinh gọn. Từ thực tiễn đó, ngành đã rút ra một số bài học lớn.
Thứ nhất, thành quả đạt được trước hết là nhờ sự quan tâm sâu sắc, toàn diện của Trung ương Đảng, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư; sự đồng hành, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Quốc hội; sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, trực tiếp là đồng chí Thủ tướng Chính phủ; sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Ban Cán sự Đảng, Ban Thường vụ, Đảng ủy, lãnh đạo Bộ VHTTDL; sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, huấn luyện viên, vận động viên, doanh nhân du lịch và sự hợp tác, ủng hộ của bạn bè quốc tế. Đó là nguồn sức mạnh tổng hợp, tạo nên những chuyển biến rõ rệt trong xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Thứ hai, phải giữ vững đoàn kết, kỷ luật, kỷ cương, trước hết là trong Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng ủy Bộ, tập thể lãnh đạo Bộ, đồng thời đề cao sự gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu.
Thứ ba, kiên định mục tiêu, thống nhất ý chí, quyết liệt trong hành động; lựa chọn đúng trọng tâm, khâu đột phá, tập trung nguồn lực để tổ chức thực hiện, đo lường được kết quả, hiệu quả; kiên quyết chống bệnh hình thức, bệnh thành tích, bệnh quan liêu, chủ quan, tự mãn, duy ý chí, cùng các biểu hiện sợ sai, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Tiếp tục đổi mới tư duy quản lý từ “Làm văn hóa” sang “Quản lý nhà nước về văn hóa”, từ “Gặp gỡ, giao lưu” sang “Hợp tác đích thực”.
Thứ tư, tăng cường mối liên hệ chủ động, thường xuyên, chặt chẽ, để Bộ VHTTDL thực sự là “đối tác tin cậy trong mọi nhiệm vụ” của các Ban, Bộ, ngành Trung ương và địa phương; giữa các đơn vị thuộc Bộ với các Sở quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao, du lịch trong tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của ngành.

Khát vọng chấn hưng và bứt phá trong kỷ nguyên mới
Năm 2026 là năm đầu tiên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; đồng thời, đây cũng là năm đầu triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, “Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2025-2035” cùng hệ thống chính sách, chiến lược, đề án đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch toàn quốc, nhất là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cần phải có sự đầu tư trí tuệ, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và hành động quyết liệt mới đạt được kết quả như mong muốn. Trong khi đó, bối cảnh thế giới dự báo tiếp tục biến động nhanh và phức tạp, với cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt, trong đó có cạnh tranh về giá trị và ảnh hưởng văn hóa. Các quốc gia đều nỗ lực định vị vai trò của mình trong trật tự thế giới mới, đặc biệt là “vị thế văn hóa”. Đồng thời, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và hội nhập quốc tế sâu rộng mở ra nhiều cơ hội để làm giàu bản sắc dân tộc, nhưng cũng tạo ra nguy cơ mới: Sự xâm nhập của yếu tố ngoại lai tiêu cực, sự phai nhạt giá trị, tác động đến văn hóa và con người Việt Nam.
Mặt khác, thực tiễn đất nước đòi hỏi chúng ta phải xử lý dứt điểm những hạn chế tồn tại, đặt ra yêu cầu chấn hưng và phát triển mạnh mẽ văn hóa. Văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách, định hình phẩm giá con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia; thực sự trở thành nền tảng vững chắc và sức mạnh nội sinh, góp phần vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hai mục tiêu 100 năm mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xác lập.
Những yêu cầu và thách thức đó đòi hỏi toàn ngành VHTTDL phải nỗ lực cao nhất, hành động quyết liệt và sáng tạo hơn trong giai đoạn mới. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Văn hóa: “Văn hóa càng phải đi trước một bước, soi đường, dẫn dắt, bồi đắp bản lĩnh, củng cố niềm tin, hình thành năng lực mềm quốc gia”. Đây vừa là mệnh lệnh của thực tiễn vừa là trách nhiệm chính trị cao cả, đòi hỏi Bộ và ngành quyết tâm thực hiện với tinh thần đổi mới, khát vọng và cống hiến cao nhất, thông qua một số giải pháp trọng tâm như sau:
Thứ nhất, tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và xây dựng chương trình hành động thực hiện hiệu quả nghị quyết đại hội đảng các cấp, Đại hội Đảng bộ Chính phủ nhiệm kỳ 2025-2030; đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, xem đây là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi tư duy từ “làm văn hóa” sang “quản lý nhà nước về văn hóa thông qua hệ sinh thái thể chế, chính sách đột phá, kiến tạo”. Nhận diện, lượng hóa và thực hiện tốt quan điểm: “Văn hóa là nền tảng - Thông tin là mạch dẫn - Thể thao là sức mạnh - Du lịch là nhịp cầu kết nối”; đồng thời triển khai nhiệm vụ theo phương châm 6 rõ: “Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ phân cấp, rõ kết quả”. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương để triển khai “Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035” một cách đồng bộ, hiệu quả và thực chất.
Thứ hai, kịp thời thể chế hóa các nghị quyết, kết luận của Đảng về văn hóa, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi, dễ thực hiện, tương thích với các Nghị quyết trụ cột mà Bộ Chính trị ban hành trong thời gian qua; đặc biệt trong bối cảnh phát triển văn hóa số, kinh tế số, công dân số, phân cấp và phân quyền cho các địa phương. Rà soát, khơi thông các “điểm nghẽn”, “nút thắt” và khoảng trống pháp lý, nhất là trong các lĩnh vực của nghệ thuật biểu diễn, văn học, công nghiệp văn hóa… để tham mưu điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi, tạo cơ chế khai thác, kiến tạo và phát huy tối đa nguồn lực cho phát triển văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch bền vững.
Ưu tiên tập trung xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù như: (1) Nhóm quy định đặc thù về mô hình đầu tư công - quản trị tư, đầu tư tư - sử dụng công; (2) Nhóm cơ chế tài chính đặc biệt để ưu tiên cho 03 lĩnh vực đột phá: Đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; đặt hàng sáng tạo các tác phẩm, công trình nghệ thuật có giá trị tư tưởng cao, xứng tầm với lịch sử và văn hóa dân tộc và (3) Nhóm cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao; chính sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian.
Thứ ba, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả; phân cấp, phân quyền triệt để cho các địa phương, cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là cán bộ trẻ, có chuyên môn, uy tín, đạo đức và triển vọng phát triển; đồng thời phát hiện, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ, nhà hoạt động sáng tạo, đạo diễn, nghệ sĩ, diễn viên, vận động viên, phóng viên… kế cận, bảo đảm sự kế thừa liên tục. Trong đó đặc biệt ưu tiên đến đào tạo nguồn nhân lực ở lĩnh vực sáng tạo số và nghệ thuật truyền thống.
Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, cộng đồng, cơ quan, doanh nghiệp; văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, khơi dậy tinh thần đoàn kết, tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường và tự hào dân tộc. Hoàn thiện và triển khai hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, giá trị gia đình Việt Nam, chuẩn mực con người; ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội. Thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, đặc biệt quan tâm vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, hải đảo, biên giới.
Thứ năm, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035. Đẩy mạnh số hóa các di sản trên phạm vi cả nước; bảo tồn, phục dựng, tổ chức tốt các lễ hội truyền thống; gắn kết hiệu quả giữa di sản và du lịch. Phối hợp hướng dẫn các địa phương xây dựng và hoàn thiện hồ sơ khoa học đề nghị UNESCO công nhận, ghi danh di sản văn hóa.
Thứ sáu, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, trọng tâm là 6 ngành: Điện ảnh; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa. Tăng cường kết nối, gia tăng giá trị sản phẩm, chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia. Rà soát, hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan; cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp văn hóa, bao gồm thuế, đất đai, tiếp cận tín dụng. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ - kỹ thuật số trong phát triển các ngành này.
Thứ bảy, về thể dục, thể thao, hoàn thiện cơ sở pháp lý bằng việc sửa đổi, bổ sung Luật Thể dục, thể thao. Đa dạng hóa phong trào, cuộc vận động thể dục thể thao, kết hợp đầu tư cơ sở vật chất, sân bãi, điểm tập luyện. Đầu tư trọng tâm, trọng điểm, phát huy hiệu quả nguồn lực xã hội trong đào tạo vận động viên nhằm hướng tới thành tích cao nhất, tốt nhất tại ASIAD 20 (2026), Olympic 2028, các kỳ SEA Games và các giải đấu khác ở các đấu trường khu vực, châu lục và thế giới.
Thứ tám, về du lịch, sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch và các văn bản pháp lý liên quan; nâng cao, đa dạng hóa sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh trong khu vực và thế giới. Đổi mới chương trình kích cầu, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm du lịch; xây dựng môi trường du lịch an toàn, thân thiện, văn minh. Hoàn thiện hệ sinh thái du lịch thông minh, gắn kết chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn; đổi mới xúc tiến, quảng bá du lịch kết hợp với di sản văn hóa, điện ảnh… theo các thị trường trọng điểm.
Thứ chín, về báo chí và truyền thông, hoàn thiện thể chế báo chí, bao gồm xây dựng văn bản thi hành Luật Báo chí sửa đổi đã được Quốc hội thông qua, chiến lược phát triển báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng mô hình tổ chức, quản trị và tài chính cơ quan báo chí phù hợp bối cảnh mới; nâng cao năng lực định hướng thông tin. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động thông tin đối ngoại, giới thiệu, lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Về xuất bản, in và phát hành, hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ; nâng cao chất lượng đầu sách, bộ sách giá trị, đa dạng hóa triển lãm, hội chợ sách, góp phần quảng bá văn hóa đọc, xây dựng xã hội học tập.
Thứ mười, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trên các lĩnh vực của ngành. Xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, nền tảng số dùng bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động và quản lý hệ thống truyền thông đại chúng, các phương tiện truyền thông mới.
Trước thềm xuân mới, ngành Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch tràn đầy niềm tin và khí thế. Tự hào nhìn lại chặng đường 5 năm qua với nhiều thành tựu, chúng ta càng vững vàng bước vào nhiệm kỳ mới với quyết tâm “Quyết liệt hơn nữa, hiệu quả cao hơn nữa”. Mạch nguồn văn hóa dân tộc, như đất trời vào xuân, đang bừng lên sức sống, hứa hẹn một giai đoạn phát triển rực rỡ. Với quyết tâm, trách nhiệm và tâm huyết của những người “đứng mũi chịu sào”, cùng sự đồng lòng của toàn xã hội, chúng ta có cơ sở vững chắc để tin rằng ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục đơm hoa kết trái, góp phần tô thắm mùa xuân của dân tộc - mùa xuân của khát vọng vươn lên và đoàn kết bền chặt; góp phần xây dựng một nước Việt Nam “Mạnh giàu, dân tộc trường tồn, mỗi người Việt Nam hạnh phúc, tự tin hòa nhập và tỏa sáng” trong kỷ nguyên mới.

RSS