Xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê:

Nền tảng hoạch định chính sách phát triển CNVH của Thủ đô

ĐÌNH TOÁN

VHO - Hà Nội đang đứng trước yêu cầu mới về phát triển công nghiệp văn hóa (CNVH), không chỉ bằng các định hướng chiến lược, mà còn bằng những công cụ quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học. Do đó, thành phố đang xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành CNVH, hướng tới hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước, xây dựng chính sách và theo dõi quá trình phát triển của lĩnh vực.

Tuy nhiên với tính đặc thù của ngành Văn hóa, việc xây dựng Bộ chỉ tiêu cần công cụ đo lường phù hợp. Một hệ thống thống kê khoa học, minh bạch không chỉ giúp đo lường chính xác đóng góp của các ngành CNVH vào GRDP, mà còn là cơ sở để nhận diện xu hướng thị trường, phân bổ nguồn lực hợp lý và thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

Nền tảng hoạch định chính sách phát triển CNVH của Thủ đô - ảnh 1
Hà Nội đang đẩy mạnh xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành CNVH

Thiếu hệ thống thống kê toàn diện

Trong bối cảnh CNVH được xác định là động lực tăng trưởng mới của Thủ đô, việc xây dựng hệ thống dữ liệu và các chỉ số đo lường trở thành yêu cầu cấp thiết. Một bộ chỉ tiêu thống kê khoa học, đồng bộ không chỉ giúp nhận diện đầy đủ quy mô, đóng góp của các ngành CNVH đối với kinh tế - xã hội mà còn tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực thi.

Đây được xem là bước chuyển biến từ quản lý dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa của Hà Nội trong giai đoạn phát triển mới.

Theo Phó Giám đốc Sở VHTT Hà Nội Lê Thị Ánh Mai, CNVH đang dần khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, khác với nhiều ngành kinh tế truyền thống, CNVH là lĩnh vực có phạm vi rộng, tính liên ngành cao và nhiều sản phẩm mang giá trị vô hình.

“Chúng ta có thể nhìn thấy doanh thu của một doanh nghiệp điện ảnh, nhưng khó đo lường đầy đủ giá trị lan tỏa của một lễ hội văn hóa; có thể thống kê số lượng cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ, nhưng không dễ lượng hóa tác động của di sản, của bản sắc văn hóa hay sức hấp dẫn sáng tạo đối với phát triển đô thị”, Phó Giám đốc Sở VHTT Hà Nội Lê Thị Ánh Mai cho biết.

Tham gia Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO, với Hà Nội, đó không chỉ là một danh hiệu mà còn là trách nhiệm đặt ra cho thành phố trong việc xây dựng các công cụ quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học. Nếu được xây dựng tốt, Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành CNVH sẽ không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước trước mắt, mà còn trở thành nền tảng để hoạch định chính sách dài hạn, theo dõi quá trình phát triển và nâng cao vị thế của Hà Nội trong mạng lưới các thành phố sáng tạo của khu vực và thế giới.

Không giống như các chính sách công của các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục hay giao thông, chính sách công cho ngành văn hóa thường thiếu đi nền tảng là một hệ thống thống kê toàn diện hỗ trợ cho quá trình xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng.

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ VHTTDL) Trần Hoàng cho biết, mặc dù hoạt động thống kê trong lĩnh vực văn hóa đã được triển khai từ nhiều năm qua nhưng với CNVH, việc thống kê gặp nhiều khó khăn do lĩnh vực này có phạm vi rộng và chưa có sự thống nhất về nội hàm.

Trên cơ sở các khuyến nghị của UNESCO, Bộ VHTTDL đang phối hợp với các đơn vị liên quan để chuẩn hóa khái niệm, xác định rõ phạm vi các ngành và phân tổ thống kê, làm nền tảng xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất cho công nghiệp văn hóa.

Bám sát khuyến nghị, tiêu chuẩn của UNESCO

Dự thảo Bộ chỉ tiêu thống kê CNVH của Hà Nội gồm 73 chỉ tiêu thuộc 7 nhóm, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống thống kê quốc gia. Việc phân tầng chỉ tiêu theo mức độ sẵn có của dữ liệu - gồm 33 chỉ tiêu từ dữ liệu hành chính, 36 chỉ tiêu từ điều tra, khảo sát và 4 chỉ tiêu thí điểm. 

Đây được đánh giá là cách tiếp cận mang tính thực tiễn, giúp bộ chỉ tiêu có tính khả thi để triển khai.

Nền tảng hoạch định chính sách phát triển CNVH của Thủ đô - ảnh 2
Xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê là nền tảng để phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng bài bản, bền vững

Trưởng Ban Văn hóa (Văn phòng UNESCO tại Hà Nội) Phạm Thị Thanh Hường cho rằng, việc xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa toàn diện, liên ngành và có khả năng so sánh quốc tế cần được xem là một ưu tiên chiến lược của Hà Nội và Việt Nam trong giai đoạn tới.

Quá trình xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành CNVH và sáng tạo cần có sự tham chiếu các khung thống kê và chỉ số quốc tế của UNESCO, đặc biệt là FCS 2025, Culture| 2030 Indicators và các cơ chế giám sát của Công ước 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. Điều này sẽ góp phần bảo đảm tính đồng bộ, khả năng liên thông và khả năng đối sánh quốc tế của hệ thống dữ liệu văn hóa quốc gia và địa phương.

Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu, Hà Nội cần thúc đẩy xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa theo hướng tích hợp, liên ngành. Về lâu dài, thành phố có thể nghiên cứu xây dựng một cơ chế hoặc trung tâm quan sát văn hóa (cultural observatory) nhằm theo dõi, phân tích và công bố định kỳ dữ liệu, xu hướng về văn hóa và sáng tạo.

Với chuyên gia thống kê Phạm Đăng Quyết (Hội Thống kê Việt Nam), ông cho rằng, điều quan trọng nhất không phải là Hà Nội tạo ra bộ chỉ tiêu hoàn hảo nhất, mà là Hà Nội có thể duy trì và cải thiện bộ chỉ tiêu đó một cách nhất quán qua nhiều năm. Sức mạnh thực sự của thống kê CNVH không nằm ở một báo cáo đẹp, mà nằm ở khả năng cung cấp một chuỗi dữ liệu đáng tin cậy theo thời gian – nền tảng để các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng, không phải dựa trên cảm tính.

Từ góc nhìn quốc tế, ông Tom Fleming (chuyên gia tư vấn CNVH của Hội đồng Anh) cho hay, để đáp ứng yêu cầu hội nhập, việc hình thành hệ thống dữ liệu đồng bộ, kết nối và chia sẻ hiệu quả giữa các bên liên quan là yếu tố cần thiết, tạo cơ sở cho quá trình hợp tác quốc tế cũng như đối chiếu, đánh giá giữa các quốc gia.

Đồng thời, bên cạnh việc duy trì các số liệu thống kê truyền thống, Hà Nội cần chú trọng tới các chỉ số phản ánh mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực khác.