Đi tìm “đầu ra” cho công nghiệp văn hóa
VHO - Bộ VHTTDL phối hợp UBND TP.HCM vừa tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (khu vực phía Nam), tại Trường ĐH Văn hóa TP.HCM. Hội thảo do Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng và Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường đồng chủ trì.
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường đánh giá cao việc Bộ VHTTDL chọn TP.HCM tổ chức hội thảo, tạo điều kiện để các địa phương phía Nam, doanh nghiệp, văn nghệ sĩ, nhà sáng tạo, chuyên gia, nhà khoa học đóng góp ý kiến từ thực tiễn. Theo ông, TP.HCM thời gian qua có nhiều hoạt động, mô hình, cách làm mới trong lĩnh vực văn hóa, từng bước tạo nền tảng thực tiễn cho phát triển công nghiệp văn hóa. Tham gia xây dựng dự án luật cũng là cơ hội để TP chuyển tải kinh nghiệm, đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù địa phương.

Mở rộng không gian phát triển từ thực tiễn
Tại hội thảo, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến đối với dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Bà Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng Áo Dài, nguyên Giám đốc Bảo tàng Chứng tích chiến tranh nhận định, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa rất cần thiết, bởi nhiều hoạt động văn hóa tại TP.HCM và khu vực phía Nam đã hình thành, phát triển từ thực tiễn. Từ kinh nghiệm công tác, bà mong muốn bảo tàng được nhìn nhận rõ hơn trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Theo bà, ngoài nhiệm vụ chuyên môn, bảo tàng có thể phát triển triển lãm, tọa đàm, biểu diễn di sản văn hóa phi vật thể, sản phẩm lưu niệm, tour văn hóa, dịch vụ ẩm thực… Bà dẫn chứng, doanh thu Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tăng khoảng 200% sau 3 năm tự chủ tài chính; tại Bảo tàng Áo Dài, lượng khách tăng khoảng 4.000%, nguồn thu tăng khoảng 5.000% sau khi chấn chỉnh hoạt động.
“Tôi xin lưu ý khi vận dụng công nghiệp văn hóa vẫn cần giữ nguyên tắc văn hóa trước, kinh tế sau. Những hoạt động của bảo tàng trước hết phải bắt đầu từ giá trị văn hóa, còn hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được”, bà nói, đồng thời đề nghị quan tâm đầu tư, hỗ trợ các bảo tàng ngoài công lập và chú trọng nguồn nhân lực.
Ông Võ Anh Tài, Phó Tổng Giám đốc TCty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist Group) cho rằng, dự thảo cần quy định cụ thể hơn về du lịch văn hóa, tương xứng vai trò tạo doanh thu, việc làm, quảng bá hình ảnh và sức mạnh mềm quốc gia. Du lịch văn hóa cần được định vị là ngành có tính tích hợp, kết nối di sản, ẩm thực, nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ, lễ hội, sản phẩm sáng tạo với hệ thống lữ hành, lưu trú, MICE và phân phối.
Ông Tài kiến nghị khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản phẩm du lịch văn hóa gắn với bảo tồn di sản; hình thành cơ chế Nhà nước đặt hàng để doanh nghiệp có năng lực thị trường tham gia phát triển sản phẩm trọng điểm; tạo thuận lợi cho kinh tế đêm, không gian công cộng, các tổ hợp văn hóa - du lịch - giải trí - MICE. Đồng thời tăng liên kết vùng, hình thành các “hành lang du lịch văn hóa” có thương hiệu để kéo dài lưu trú, tăng chi tiêu, đưa văn hóa Việt Nam đến gần du khách quốc tế.
Bà Phan Thị Diệu Hoa, Trưởng phòng Pháp chế CJ CGV Việt Nam nêu ý kiến cần hoàn thiện cơ chế pháp lý để doanh nghiệp điện ảnh phát triển, đa dạng hóa hoạt động; đơn giản hóa thủ tục hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) trong sản xuất phim, rút ngắn thời gian xử lý, thống nhất tiêu chí thẩm định nhằm thúc đẩy hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ. Bà cũng đề nghị mở rộng chức năng hệ thống rạp chiếu phim, cho phép phổ biến các sản phẩm công nghiệp văn hóa như livestream, hòa nhạc, biểu diễn nghệ thuật, thể thao, eSports, nội dung số với cơ chế quản lý phù hợp từng loại hình.
Ấn tượng với ý tưởng “thẻ văn hóa quốc gia”
Ông Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTTDL, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đánh giá dự thảo được chuẩn bị công phu, đã xử lý nhiều vấn đề về cơ chế, chính sách nhưng cần làm rõ hơn chính sách tạo động lực sáng tạo. “Cái gốc của công nghiệp văn hóa vẫn là sáng tạo. Không có sáng tạo thì các chính sách cũng khó phát huy”, ông nhấn mạnh.
Theo ông, phải cụ thể hóa chính sách ưu đãi khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào văn hóa; tạo không gian, cơ chế quản lý phù hợp để nghệ sĩ, nhà sáng tạo làm ra sản phẩm mới, khác biệt. Các lĩnh vực công nghiệp văn hóa cũng cần được quy định theo hướng mở để đón nhận những ngành, sản phẩm mới trong tương lai.
Với thẻ văn hóa quốc gia, ông Vương Duy Biên cho rằng cần tính đến nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhiều nhóm tuổi, trong đó có trẻ em, người cao tuổi, để chính sách thiết thực khi đi vào đời sống. Hiệp hội sẽ tiếp tục có văn bản góp ý chi tiết.
Bà Bùi Việt Hà, Giám đốc Đối ngoại Yeah1 đánh giá các đề xuất trong dự thảo có ý nghĩa thiết thực với doanh nghiệp, đặc biệt là cơ chế phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và ý tưởng thẻ văn hóa quốc gia. Việc khuyến khích doanh nghiệp phối hợp với cơ sở giáo dục xây dựng chương trình đào tạo, hỗ trợ thực tập, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm thực tế là hướng đi phù hợp. Từ thực tiễn hợp tác với nhiều trường đại học, bà đề nghị ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa.
Ấn tượng với ý tưởng “thẻ văn hóa quốc gia”, bà Việt Hà bày tỏ cần thiết kế để thẻ thực sự tạo động lực cho người dân tham gia và sáng tạo sản phẩm văn hóa. Thẻ không nên chỉ hỗ trợ tiếp cận, chi trả các hoạt động văn hóa mà có thể trở thành cơ chế tích điểm, khuyến khích người dùng, nhà sáng tạo tích cực tham gia phát triển công nghiệp văn hóa.
Theo đó, người sở hữu thẻ có thể tích điểm khi tạo, lan tỏa nội dung về cảnh đẹp, ẩm thực, văn hóa Việt Nam trên các nền tảng số; điểm được quy đổi thành ưu đãi khi tham quan bảo tàng, di tích, điểm du lịch hoặc sử dụng sản phẩm văn hóa. “Điều quan trọng là biến thẻ văn hóa quốc gia thành một sản phẩm thực sự hữu ích, qua đó khuyến khích cả người dùng và nhà sáng tạo tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa hơn”, bà nhấn mạnh.
Cần thêm cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế
Ông Đoàn Đức Dương, Giám đốc pháp chế Cty CP Đất Việt cho rằng, cần thống nhất các thuật ngữ liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, tài sản trí tuệ và quyền khai thác tài sản trí tuệ, tránh cách hiểu, áp dụng khác nhau. Ông kiến nghị bổ sung khái niệm “thương hiệu quốc gia công nghiệp văn hóa”, làm cơ sở nhận diện, hỗ trợ doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ, sự kiện, nền tảng và mô hình tiêu biểu có năng lực sáng tạo, thị trường, xuất khẩu, sức lan tỏa.
Ông cũng đề nghị bổ sung chính sách ưu đãi với doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trong nước, bảo đảm không kém thuận lợi hơn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, chuyển đổi số, xúc tiến, xuất khẩu. “Nếu luật không quy định rõ cơ chế ưu đãi, đột phá thì khi triển khai thực tế sẽ khó tạo được động lực mạnh cho công nghiệp văn hóa”, ông nhấn mạnh.
Ông Trần Việt Bảo Hoàng, Tổng Giám đốc Cty Unimedia, Trưởng BTC Miss Cosmo nhận định, xuất khẩu văn hóa cần được quan tâm vì vừa quảng bá hình ảnh quốc gia, vừa gia tăng giá trị thương mại sản phẩm văn hóa. Từ thực tiễn tổ chức Miss Cosmo và đưa bản quyền đến hơn 80 quốc gia năm 2025, hơn 90 quốc gia năm 2026, ông mong muốn dự thảo tiếp tục nghiên cứu cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế.
Một vấn đề cần quan tâm là bảo hộ tài sản trí tuệ ở nước ngoài. Với những thương hiệu có khả năng quảng bá văn hóa Việt Nam ra quốc tế, ông mong có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp bảo hộ sở hữu trí tuệ. Tổng Giám đốc Cty Unimedia đề xuất cơ chế thuận lợi hơn cho tổ chức sự kiện có yếu tố quốc tế; hoàn thiện chính sách xúc tiến, quảng bá sản phẩm văn hóa ở nước ngoài, tạo điều kiện đưa thương hiệu Việt Nam đến các thị trường quốc tế.
Những đề xuất từ thực tiễn cho thấy yêu cầu đặt ra với dự luật là tạo một hành lang đủ rộng cho sáng tạo, đồng thời đủ rõ để khơi thông đầu tư, thị trường và khả năng đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thế giới. Khi những điểm nghẽn về chính sách được tháo gỡ, công nghiệp văn hóa mới có thể chuyển mạnh từ tiềm năng thành động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm quốc gia.

RSS