Để người giữ nghề sống được bằng nghề

NGUYỄN ĐỖ

VHO - Một bức tranh dân gian có thể đi rất xa, nhưng người làm ra nó cần có một tương lai ngay trên quê hương mình. Khi di sản mở ra sinh kế, khi người trẻ tìm thấy cơ hội sáng tạo từ vốn quý cha ông, phát triển văn hoá trở thành câu chuyện thiết thân của mỗi gia đình.

Để người giữ nghề sống được bằng nghề - ảnh 1
Học sinh trường PTTH Thăng Long nghe giới thiệu về tranh Đông Hồ

Trong chùm ảnh Báo Văn Hoá ghi lại ngày 2.10.2026 tại Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, có hình ảnh một gian hàng giới thiệu tranh Đông Hồ giữa không gian giao lưu quốc tế. Dòng tranh dân gian Việt Nam hiện diện ở đó, mời du khách tìm hiểu vẻ đẹp của một nghề truyền thống. Một chi tiết nhỏ giữa ngày hội lớn, nhưng gợi ra câu chuyện dài về con đường đưa di sản đến với công chúng hôm nay.

Lễ hội đã khép lại tối 4.10 tại Hoàng thành Thăng Long. Những cuộc gặp gỡ trong bốn ngày giao lưu văn hoá cũng đặt ra một mong đợi: từ sự chú ý tại ngày hội, sẽ có thêm những kết nối bền lâu với người làm nghề, với làng nghề, với những giá trị Việt Nam đang cần được tiếp sức.

Bởi đằng sau một bức tranh được mang về làm quà còn có công sức của người tạo tác. Đằng sau một di sản được ngợi ca còn có những gia đình cần sống, những người trẻ cần lựa chọn nghề nghiệp. Niềm tự hào sẽ có sức bền khi đi cùng một câu trả lời thực tế: giữ nghề có thể mở ra tương lai.

Sau niềm tự hào là cuộc sống

Tháng 3.2026, Bắc Ninh tổ chức lễ đón nhận Bằng UNESCO ghi danh nghề làm tranh dân gian Đông Hồ. Trong thông tin về sự kiện, UNESCO nhấn mạnh yêu cầu tiếp nối nghề qua các thế hệ, đồng thời gắn bảo tồn với sinh kế, giáo dục và phát triển bền vững. Sự ghi nhận quốc tế, vì thế, cũng mở đầu cho những trách nhiệm cụ thể đối với đời sống của di sản và cộng đồng gìn giữ nó.

Một danh hiệu có thể đưa tên làng nghề đến với nhiều người. Nhưng để người trẻ quyết định học nghề, cần thêm những điều gần gũi hơn: người hướng dẫn, nơi thực hành, nguyên liệu, khách hàng, thu nhập và cơ hội phát triển năng lực. Tình yêu nghề là điểm khởi đầu quý giá, điều kiện sống giúp tình yêu ấy có thể đi đường dài.

Đặt người dân ở vị trí trung tâm của phát triển văn hoá phải bắt đầu từ sự thấu hiểu này. Người nghệ nhân cần được trân trọng trong đời sống thường ngày, trong cách công sức được trả xứng đáng, trong quyền được góp ý về những hoạt động khai thác nghề của mình. Họ có tri thức, có kinh nghiệm và có quyền lựa chọn cách trao truyền vốn quý ấy.

Với công chúng, được thụ hưởng văn hoá cũng có thể bắt đầu từ một trải nghiệm giản dị: biết ai làm ra bức tranh, hiểu vì sao một công đoạn đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhận ra điều khác biệt giữa sản phẩm được tạo tác bằng tay nghề và một hình ảnh sao chép hàng loạt. Hiểu thêm một chút, người mua có thể trân trọng hơn một chút. Sự trân trọng ấy, nếu được chuyển thành lựa chọn tiêu dùng có trách nhiệm, sẽ tiếp sức trực tiếp cho người làm nghề.

Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển nhờ đó trở nên cụ thể. Người dân tạo ra giá trị; xã hội nhận biết và sử dụng giá trị; lợi ích quay trở lại nuôi dưỡng người sáng tạo. Một vòng tuần hoàn như vậy cần được gây dựng bằng những kết nối thực chất.

Cho người trẻ một lý do để tiếp nối

Đã có những cách đến gần di sản rất đáng chú ý. Cuối tháng 5.2026, dự án “Họa Ký Đông Hồ” tổ chức sự kiện “Hồn trên giấy mộc” tại Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, đưa người trẻ gặp nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm, trải nghiệm in tranh và khám phá tác phẩm qua công nghệ số. Những ứng dụng hoạ tiết Đông Hồ trên sổ tay, túi vải, quạt giấy cũng được giới thiệu. Sinh viên Vũ Ngọc Huy chia sẻ rằng việc trực tiếp trải nghiệm và nghe nghệ nhân giải thích giúp mình hiểu sâu hơn về văn hoá dân tộc.

Điều đáng quý ở cách làm ấy là một cuộc gặp giữa các thế hệ có thể trở thành khởi đầu của sáng tạo. Người đi trước mang đến kỹ thuật và sự am hiểu. Người đến sau đặt câu hỏi, thử cách biểu đạt, tìm đường đưa sản phẩm vào đời sống của thế hệ mình. Khi được tổ chức cẩn trọng, cả hai phía đều có điều để trao đi và nhận lại.

Từ đây, có thể mở rộng những hình thức hợp tác giữa nghệ nhân với nhà thiết kế, nhà trường, doanh nghiệp du lịch và các nhóm sáng tạo. Một chương trình học cần trả công xứng đáng cho người truyền dạy. Một sản phẩm mới cần giới thiệu rõ nguồn cảm hứng và đóng góp của người làm nghề. Một chuyến tham quan cần dành đủ thời gian cho khách hiểu nơi mình đến, đồng thời đem lại lợi ích hợp lý cho gia đình đón tiếp.

Đổi mới cũng cần sự tôn trọng. Cộng đồng giữ nghề phải có tiếng nói khi các giá trị của mình được lựa chọn, diễn giải và đưa vào sản phẩm thương mại. Càng muốn đi xa, càng cần hiểu kỹ điều mình mang theo. Một thiết kế mới có thể mở thêm thị trường, sự hiểu biết về nghề giúp thiết kế ấy giữ được chiều sâu.

Người trẻ sẽ có thêm lý do để tiếp nối khi được nhìn thấy cả vẻ đẹp lẫn triển vọng của công việc. Học nghề cha ông có thể đi cùng học thiết kế, ngoại ngữ, kinh doanh, kỹ năng số. Những năng lực ấy giúp họ chủ động kể câu chuyện quê hương, gặp khách hàng và phát triển sản phẩm.

Khi đó, ở lại với làng nghề có thể trở thành một lựa chọn đầy khát vọng.

Để lợi ích trở về với người làm ra giá trị

Tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam ngày 25.9.2026, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú yêu cầu gắn triển khai Nghị quyết 80 với phát triển du lịch, hình thành rõ hơn mối liên kết giữa văn hoá, di sản, sáng tạo, công nghiệp văn hoá và du lịch. Việc đánh giá kết quả phải từng bước lượng hoá mức độ thụ hưởng của người dân, khả năng tạo việc làm và duy trì các mô hình. Đó là yêu cầu đưa chủ trương đến những thay đổi có thể nhận thấy trong đời sống.

Nhìn từ làng nghề, thước đo ấy có thể rất gần: sau một chương trình quảng bá, người làm nghề có thêm khách hàng hay không; sau một lớp truyền dạy, có người tiếp tục học hay không; sau khi một điểm đến đông khách hơn, thu nhập của cộng đồng có được cải thiện hay không. Những câu hỏi này giúp các nỗ lực tổ chức, đầu tư và xúc tiến tìm đúng đích đến.

Cơ quan văn hoá có thể kết nối người giữ nghề với trường học, đơn vị thiết kế và thị trường. Ngành Du lịch có thể đưa trải nghiệm làng nghề vào những hành trình phù hợp. Chính quyền địa phương có thể hỗ trợ môi trường sản xuất, cảnh quan và hạ tầng đón khách. Doanh nghiệp có thể cùng cộng đồng xây dựng sản phẩm, công khai thoả thuận và chia sẻ lợi ích. Mỗi bên làm tốt phần việc của mình sẽ tạo thêm điều kiện để người dân chủ động phát triển nghề.

Công chúng cũng có thể góp sức bằng những lựa chọn nhỏ: mua một sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, trả mức giá tôn trọng công lao động, dành thời gian nghe người làm nghề kể chuyện, giới thiệu đúng tên người sáng tạo. Những việc ấy giúp sự quan tâm đi xa hơn một lời khen.

Tất nhiên, bảo tồn còn bao gồm những giá trị khó bán thành hàng hoá. Tri thức cần được ghi chép, kỹ thuật cần được truyền dạy, ký ức cộng đồng cần được gìn giữ ngay cả khi chưa tạo ra doanh thu. Nguồn lực công và trách nhiệm xã hội vẫn rất cần thiết. Chính sự kết hợp giữa chăm lo lâu dài và mở rộng cơ hội nghề nghiệp mới giúp di sản có nền tảng vững chắc.

Từ gian tranh Đông Hồ giữa một lễ hội quốc tế, có thể nghĩ đến những chuyến đi tiếp theo: du khách tìm về làng, người thiết kế tìm đến nghệ nhân, người trẻ tìm thấy một công việc mình muốn gắn bó. Đó là những khả năng đáng để cùng nhau vun đắp, bằng chính sách, bằng hợp tác và bằng sự trân trọng trong mỗi lựa chọn.

Một bức tranh được mang đi có thể kể với thế giới về Việt Nam. Một người làm nghề sống tốt, một người trẻ tự tin tiếp nối sẽ giúp câu chuyện ấy còn được kể mãi.