Triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam:

Đẩy mạnh hợp tác với UNESCO bảo vệ và phát huy di sản thế giới

HỒNG NHUNG

VHO - Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã thể hiện định hướng rất kịp thời và có tầm nhìn dài hạn trong cách tiếp cận toàn diện của hội nhập quốc tế về văn hóa, dựa trên nền tảng hợp tác đa phương, tôn trọng các chuẩn mực chung và thúc đẩy xây dựng các hệ sinh thái văn hóa bền vững.

Đẩy mạnh hợp tác với UNESCO bảo vệ và phát huy di sản thế giới - ảnh 1
Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace Baker

Trong cuộc trả lời phỏng vấn với Báo Văn Hóa, từ góc nhìn tích cực về Nghị quyết số 80, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace Baker đánh giá cao việc Việt Nam ban hành một nghị quyết riêng về phát triển văn hóa, coi văn hóa là nền tảng và động lực cho sự phát triển đất nước. UNESCO sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam bảo vệ và phát huy di sản thế giới để tạo ra giá trị lâu dài cho con người và cộng đồng.

P.V: Ông đánh giá như thế nào về việc Việt Nam ban hành một nghị quyết riêng về phát triển văn hóa, coi văn hóa là nền tảng và động lực cho sự phát triển đất nước?

- Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace Baker: UNESCO hoan nghênh tầm nhìn thể hiện trong Nghị quyết số 80. Việc xác định văn hóa là một nguồn lực cốt lõi và trụ cột của phát triển cho thấy Việt Nam đã đặt con người, các giá trị và bản sắc văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển dài hạn của quốc gia.

Cách tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi văn hóa góp phần củng cố sự gắn kết xã hội và khả năng chống chịu, đồng thời giúp xã hội thích ứng với thay đổi mà không đánh mất định hướng phát triển, hướng tới một mô hình phát triển vừa phát huy nội lực, vừa hội nhập quốc tế. Việc đặt văn hóa song hành cùng các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường hoàn toàn phù hợp với nỗ lực toàn cầu hiện nay nhằm khẳng định văn hóa như một trụ cột độc lập của phát triển bền vững sau năm 2030.

Từ góc độ của UNESCO, Nghị quyết đã đưa ra một lộ trình chính sách cho tiến trình đổi mới mang tính cơ cấu trong lĩnh vực văn hóa, hướng tới huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy kinh tế sáng tạo và bảo vệ sự đa dạng văn hóa. Đây là sự tiếp nối hợp lý của truyền thống coi trọng văn hóa lâu dài của Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng để quốc gia ứng phó hiệu quả với những thách thức của kỷ nguyên số và bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.

Theo ông, nhiệm vụ hội nhập quốc tế về văn hóa trong Nghị quyết số 80 có ý nghĩa như thế nào đối với việc quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới hiện nay?

- Nhiệm vụ hội nhập quốc tế về văn hóa được nêu trong Nghị quyết số 80 có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đáng chú ý là văn hóa không chỉ được nhìn nhận như một công cụ quảng bá hình ảnh, mà trở thành một trụ cột trong chiến lược hội nhập và củng cố sức mạnh mềm của quốc gia. Điều này cũng phù hợp với hướng đi trong những năm gần đây của Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại, đặc biệt là hợp tác ngày càng sâu rộng với UNESCO.

Thứ nhất, có thể thấy rõ sự chuyển dịch từ “tham gia” sang “chủ động đóng góp và định hình” trong các cơ chế đa phương. Việt Nam ngày càng đảm nhiệm vai trò tích cực trong hệ thống quản trị của UNESCO, như tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 43, Hội đồng Chấp hành và Ủy ban Di sản Thế giới nhiệm kỳ 2023- 2027. Cùng với đó là “Sáng kiến thúc đẩy Thập kỷ Văn hóa vì phát triển bền vững”. Điều này cho thấy Việt Nam không chỉ thực hiện các công ước quốc tế, mà còn tham gia định hình các chuẩn mực và đối thoại chính sách toàn cầu về văn hóa.

Ngoài ra, danh mục các di sản và danh hiệu được UNESCO ghi danh của Việt Nam cũng ngày càng mở rộng. Hiện Việt Nam có 9 Di sản Thế giới và 17 Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, phản ánh mức độ tin cậy quốc tế ngày càng cao đối với nỗ lực bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của Việt Nam.

Đẩy mạnh hợp tác với UNESCO bảo vệ và phát huy di sản thế giới - ảnh 2
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ảnh: NG.HÀ

Thứ hai, Nghị quyết đã gắn văn hóa với phát triển bền vững và kinh tế sáng tạo. Việc kết nối các ngành công nghiệp văn hóa, xuất khẩu sản phẩm văn hóa và xây dựng thương hiệu quốc gia với chiến lược phát triển dài hạn là bước đi quan trọng. Hình ảnh Việt Nam vì thế không chỉ được truyền tải qua các di sản, mà còn qua các lĩnh vực sáng tạo như thiết kế, điện ảnh, ẩm thực hay nội dung số - những lĩnh vực có sức lan tỏa mạnh mẽ tới thế hệ trẻ và thị trường toàn cầu.

Cuối cùng là vấn đề chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Các ưu tiên của UNESCO về bảo tồn di sản số và mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa trên môi trường số phù hợp với định hướng của Việt Nam trong việc số hóa tài sản văn hóa và tăng cường quản trị các không gian văn hóa trực tuyến. Trong một môi trường số xuyên biên giới, việc thúc đẩy đa dạng văn hóa và bảo đảm quản trị có trách nhiệm là yếu tố then chốt.

Nhìn tổng thể, những định hướng này cho thấy cách tiếp cận toàn diện đối với hội nhập văn hóa quốc tế, dựa trên hợp tác đa phương, các chuẩn mực chung và các hệ sinh thái văn hóa bền vững.

Việt Nam cần làm gì để phát huy tốt hơn các danh hiệu và di sản được UNESCO ghi danh, qua đó góp phần thực hiện các định hướng của Nghị quyết số 80?

- UNESCO luôn nhấn mạnh rằng các danh hiệu không phải là đích đến cuối cùng. Điều quan trọng nhất là những danh hiệu này được phát huy để tạo ra giá trị lâu dài cho con người và cộng đồng. Nghị quyết số 80 là một định hướng rất kịp thời và có tầm nhìn dài hạn. Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, theo chúng tôi, có ba hướng ưu tiên: Thứ nhất, phát triển kinh tế sáng tạo. UNESCO sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam hoàn thiện chiến lược trong lĩnh vực này và mở rộng các mạng lưới như Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO, đồng thời thúc đẩy các chương trình nâng cao năng lực và các quan hệ đối tác mới nhằm trao quyền cho thanh niên và phụ nữ.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả bảo vệ và quản lý di sản. UNESCO sẽ phối hợp với các đối tác để tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, đồng thời tăng cường hợp tác trong công tác bảo tồn và quản lý di sản.

Thứ ba, thúc đẩy du lịch bền vững. UNESCO sẽ cùng khu vực tư nhân, chính quyền địa phương và cộng đồng thúc đẩy các mô hình du lịch có trách nhiệm, vừa bảo vệ di sản vừa mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương.

Xin cảm ơn ông!