Văn hoá Chăm trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá:

Bảo tồn đúng, phát huy sáng tạo và không làm sai lệch giá trị

PGS.TS PHAN QUỐC ANH

VHO - Năm 2026, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI sẽ được tổ chức tại tỉnh Khánh Hòa, với chủ đề “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới”. Đây không chỉ là dịp tôn vinh khối đại đoàn kết các dân tộc, mà còn là thời điểm để chúng ta nhìn lại chiến lược bảo tồn và phát huy di sản dưới ánh sáng của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Làm thế nào để văn hóa Chăm thực sự trở thành một trụ cột của ngành công nghiệp văn hóa ở vùng đồng bào Chăm, một trong 12 ngành được Nghị quyết 80 xác định là mũi nhọn? Câu trả lời nằm ở việc bảo tồn đúng bản chất và phát huy sáng tạo nhưng không làm sai lệch giá trị cốt lõi. Nói cách khác, chìa khóa chính là tính nguyên bản.

Bức tranh đa sắc

Sau khi tổ chức lại địa giới hành chính (từ 1.7.2025), không gian sinh tồn và giao lưu văn hóa của cộng đồng khoảng 180.000 người Chăm trở nên rộng lớn và liền mạch hơn. Bức tranh di sản sẽ hội tụ tại Ngày hội sắp tới không phải là một thực thể đơn điệu, mà là một bức tranh đa sắc được dệt nên từ những đặc trưng văn hóa rực rỡ của từng vùng miền.

Bảo tồn đúng, phát huy sáng tạo và không làm sai lệch giá trị  - ảnh 1
Đồng bào Chăm bên tháp cổ dịp lễ hội Ka tê. Ảnh: B.Linh

Tại khu vực Gia Lai, Đắk Lắk, cộng đồng Chăm H’roi mang đến một hơi thở hoàn toàn khác biệt, gắn chặt với đại ngàn. Họ lưu giữ kho sử thi H’ri đồ sộ, những điệu múa xoang cuồng nhiệt quanh cột đâm trâu trong lễ hội Đổ Đầu, và bộ nhạc cụ độc đáo “trống đôi, cồng ba, chiêng năm”, một minh chứng sống cho sự giao thoa văn hóa giữa cư dân Nam Đảo và Môn - Khmer.

Tại khu vực Khánh Hòa và Lâm Đồng, nơi có cộng đồng người Chăm đông nhất cả nước. Đây là vùng lõi bảo lưu các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể lâu đời và đặc sắc của văn hóa Chăm. Đó là hệ thống đền tháp, tiêu biểu như tháp Ponagar, tháp Po Klong Garai, tháp Hòa Lai (đều là di tích quốc gia đặc biệt) và tháp Po Rome, tháp Po Sha Nư (di tích quốc gia).

Cùng với đó là tín ngưỡng Bàlamôn (Ahier) và Bàni (Awal), những lễ hội Katê, Ramawan, Rija Nưgar còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Không thể không kể đến nghệ thuật làm gốm của người Chăm tại làng Bàu Trúc (Khánh Hòa) và Bình Đức (Lâm Đồng), đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp (2022), và nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp cũng nằm trong Danh mục di sản quốc gia.

Trong khi đó, ở Nam Bộ (An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, TP.HCM), cộng đồng Chăm Islam lại kiến tạo một không gian văn hóa tĩnh tại, trang nghiêm, mang đậm dấu ấn giao lưu với thế giới Hồi giáo. Nhịp trống Rebana, những bài thánh ca Jikir và các Thánh đường (Masjid) như Mubarak ở An Giang (di tích quốc gia) tạo nên một sắc thái văn hóa vừa đặc thù vừa mang tính toàn cầu.

Sự đa dạng ấy chính là tài nguyên quý giá để phát triển du lịch văn hóa và công nghiệp văn hóa, nhưng cũng đặt ra yêu cầu bảo tồn hết sức tinh tế.

Những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ

Dù sở hữu kho tàng di sản đồ sộ, thực tế khai thác di sản Chăm thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế đáng lo ngại. Nổi cộm nhất là tình trạng “sân khấu hóa” dễ dãi, làm biến dạng nghệ thuật dân gian. Tại không ít khu du lịch, các tiết mục được gắn mác “múa Chăm”, “nhạc Chăm” nhưng vũ đạo bị pha tạp bởi những động tác hiện đại, phần âm nhạc bị phối khí điện tử tùy tiện, mất đi ngôn ngữ truyền thống. Hệ quả là công chúng, cả trong nước lẫn quốc tế, có cái nhìn lệch lạc về văn hóa Chăm.

Tiếp đến là một số địa phương can thiệp vào phần lễ nghi mang tính tín ngưỡng. Nhiều lễ hội bị cắt xén, “hiện đại hóa” theo kịch bản festival, hoặc bị đưa ra biểu diễn thương mại đường phố một cách dễ dãi, khiến không gian thiêng bị “giải thiêng”. Người dân từ chủ thể văn hóa dần bị đẩy thành những “diễn viên” thụ động.

Một vấn đề khác là tình trạng hướng dẫn viên du lịch nước ngoài hoạt động trái phép tại các cụm tháp, di tích. Họ thiếu kiến thức chuyên môn, thường diễn giải sai lệch lịch sử, ý nghĩa các biểu tượng tín ngưỡng, gây ảnh hưởng đến an ninh văn hóa và hình ảnh du lịch.

Để Ngày hội Văn hóa Chăm tạo chuyển biến thực chất

Theo Kế hoạch của Bộ VHTTDL, Ngày hội sẽ diễn ra từ ngày 26 đến 28.6.2026 tại Quảng trường 16 tháng 4, phường Phan Rang (Khánh Hòa), với sự tham gia của tám tỉnh, thành: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai và TP.HCM. Các hoạt động phong phú bao gồm: Trình diễn trích đoạn lễ hội, trưng bày không gian văn hóa, liên hoan văn nghệ quần chúng, trình diễn trang phục, thi đấu thể thao dân gian (kéo co, đẩy gậy, bóng đá mini, đội nước) và đặc biệt là phần thi kỹ năng du lịch cộng đồng.

Để sự kiện thực sự góp phần hiện thực hóa Nghị quyết 80, cần tập trung vào một số giải pháp: Một là, phân định rõ vai trò giữa Nhà nước và cộng đồng. Phần lễ nghi tín ngưỡng phải giao hoàn toàn cho chức sắc và người dân tự tổ chức. Cơ quan quản lý chỉ hỗ trợ an ninh, hạ tầng và tổ chức phần “hội”, quảng bá du lịch, giao lưu văn hóa. Hai là, đổi mới nội dung Ngày hội theo hướng tăng cường giao lưu thực chất.

Bên cạnh hội diễn, nên tổ chức các tour trải nghiệm chéo cho nghệ nhân, chức sắc giữa các vùng Chăm (từ Khánh Hòa, Tây Nguyên đến Nam Bộ) để họ tự học hỏi, thấu hiểu sự đa dạng nội tại của chính dân tộc mình. Có thể lồng ghép một diễn đàn “Công nghiệp văn hóa Chăm” để nghệ nhân, doanh nghiệp lữ hành và nhà quản lý cùng bàn cách phát triển sản phẩm, liên kết tour tuyến.

Ba là, phát triển du lịch cộng đồng có chia sẻ lợi ích. Khánh Hòa có lợi thế khi sở hữu cả di sản tháp cổ, làng nghề gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp cùng cảnh quan đồi cát, vườn nho, đồng cừu. Các homestay, resort mang kiến trúc Chăm (gạch nung, điêu khắc) cần được khuyến khích nhưng phải tuân thủ bảo vệ cảnh quan di tích. Quan trọng nhất là cơ chế để cộng đồng được hưởng lợi từ nguồn thu du lịch, đó là cách bền vững nhất để họ tự nguyện gìn giữ di sản.

Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chấn chỉnh hoạt động hướng dẫn. Cần sớm xử lý tình trạng hướng dẫn viên nước ngoài trái phép. Đồng thời, triển khai đào tạo thuyết minh viên, hướng dẫn viên người Chăm tại chỗ thông qua chương trình liên kết giữa Đại học Khánh Hòa, Đại học Thái Bình Dương, các trường vùng cùng với Sở VHTTDL. Xây dựng hệ thống audio guide đa ngôn ngữ với nội dung được hội đồng khoa học thẩm định cũng là giải pháp hữu hiệu.

Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI không chỉ là ngày hội của riêng đồng bào Chăm, mà là sự kiện văn hóa lớn của cả nước. Với sự chỉ đạo của Bộ VHTTDL, sự chuẩn bị chu đáo của tỉnh Khánh Hòa và sự tham gia của tám tỉnh, thành, đây là cơ hội để khẳng định: Bảo tồn di sản không có nghĩa là đóng băng quá khứ, mà là làm cho di sản sống động, hữu dụng trong đời sống hôm nay.

Khi văn hóa được bảo tồn đúng bản chất và phát huy một cách sáng tạo, nó sẽ trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, góp phần hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết 80 đã vạch ra: Phát triển văn hóa ngang hàng với kinh tế, biến di sản thành động lực tăng trưởng bền vững. Đó cũng chính là thông điệp mà Ngày hội Văn hóa Chăm lần thứ VI mong muốn gửi gắm