Bàn giải pháp phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
VHO - Sáng ngày 15.4, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội sẽ tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”.
Hội thảo thu hút nhiều học giả, nhà nghiên cứu, giảng viên, các nhà quản lý văn hóa - nghệ thuật, các văn nghệ sĩ trên cả nước tham dự, trao đổi và phát biểu ý kiến.

Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa - nghệ thuật, các doanh nghiệp gặp gỡ, chia sẻ kết quả nghiên cứu, những mô hình thành công và kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay.
Đây cũng là yêu cầu cấp thiết, bởi một nghị quyết đúng và trúng chỉ thực sự phát huy giá trị khi được cụ thể hóa thành chương trình hành động, thành thiết chế thực thi, thành nguồn lực, thành sản phẩm, thành sự chuyển biến trong đời sống văn hóa và trong chất lượng phát triển con người Việt Nam.
Hội thảo còn là cơ hội để tập hợp, giới thiệu và công bố những đề xuất, định hướng, giải pháp và khuyến nghị mang tính khoa học ứng dụng cao nhằm phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Các tham luận cho thấy “bức tranh” văn hóa Việt Nam hiện nay vừa có nhiều tín hiệu tích cực, vừa đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy không ít bất cập như: thể chế hóa còn chậm; quản trị còn phân tán; đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng; nguồn nhân lực còn thiếu và yếu; chuyển đổi số chưa đồng đều; thị trường văn hóa phát triển chưa bền vững; chênh lệch thụ hưởng văn hóa còn lớn; nguy cơ thương mại hóa, lệch chuẩn, xâm thực giá trị và xâm phạm bản quyền trong môi trường số ngày càng gia tăng.
Từ Hội thảo khoa học quốc gia này, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đặt mục tiêu kết nối các nhà khoa học, các nhà quản lý và các văn nghệ sĩ, đơn vị doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo, giảng dạy sinh viên, đồng thời, kết quả hội thảo cũng giúp nhà trường có điều chỉnh, cập nhật nội dung, chương trình đào tạo theo hướng phù hợp, thiết thực và cụ thể hơn.
Theo BTC, Hội thảo đã nhận được 162 tham luận của các nhà nghiên cứu, giảng viên, các nhà quản lý đến từ nhiều cơ quan, đại học, viện nghiên cứu. Các tham luận tập trung bàn luận, trao đổi 5 cụm vấn đề chính.
Trong đó, vấn đề hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa. Trong vấn đề này, các nhà nghiên cứu đề nghị đẩy nhanh thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW; bảo đảm tính đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về văn hóa với pháp luật về giáo dục, khoa học - công nghệ, đầu tư, tài chính, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, an ninh mạng và thương mại điện tử; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển; phát huy vai trò kiến tạo của nhà nước; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình.
Nhiều tham luận đã chỉ ra rằng không gian văn hóa ngày nay không chỉ tồn tại trong các thiết chế truyền thống, mà đang mở rộng mạnh mẽ sang môi trường số. Vì vậy, quản trị văn hóa cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu, nền tảng số, chỉ số đo lường, công cụ giám sát hiện đại, đồng thời phải chú trọng bản quyền số, chủ quyền văn hóa số và an ninh văn hóa trên không gian mạng.

Vấn đề xây dựng hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Vấn đề này nhận được nhiều ý kiến bàn luận sâu sắc, cụ thể và thực tế của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý…
Một số tham luận đã phân tích khá sâu các vấn đề mới đang đặt ra đối với hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay, như: sự biến đổi trong quan hệ gia đình và liên thế hệ; những tác động đa chiều của mạng xã hội và truyền thông số; nguy cơ phân mảnh giá trị; xu hướng tiêu dùng văn hóa nhanh; hiện tượng lệch pha giữa nhận thức và thực hành giá trị; thách thức trong việc gìn giữ bản sắc mà không khép kín, trong hội nhập mà không hòa tan.
Các nghiên cứu về thanh niên, sinh viên, lực lượng công an, quân đội, cũng như những tham luận tiếp cận từ đạo đức Phật giáo, từ văn hóa lãnh đạo, từ làng nghề truyền thống… đều cho thấy hệ giá trị không phải là vấn đề trừu tượng, mà phải được kiến tạo trong môi trường sống cụ thể, thông qua giáo dục, thực hành và nêu gương.
Ngoài ra, Hội thảo tập trung thảo luận vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong xây dựng thương hiệu. Một trong những đóng góp quan trọng của nhóm tham luận này là chỉ ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy bảo tồn tĩnh sang tư duy bảo tồn động; từ việc lưu giữ đơn thuần sang dữ liệu hóa, số hóa, kể chuyện di sản, nâng cao trải nghiệm công chúng, đổi mới hoạt động bảo tàng, phát triển sản phẩm văn hóa - du lịch, xây dựng thương hiệu điểm đến và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Nhiều trường hợp nghiên cứu cho thấy khi di sản được kết nối đúng cách với kinh tế sáng tạo, với truyền thông số và với thị trường du lịch, giá trị của di sản không bị giảm sút, mà trái lại có thể được lan tỏa mạnh mẽ hơn, đóng góp nhiều hơn cho phát triển.
Vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Theo các nhà nghiên cứu, Việt Nam có nhiều tiềm năng trong các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, nội dung số, game, thiết kế, xuất bản, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và truyền thông sáng tạo.
Tuy nhiên, để tạo ra công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh thực sự, cần đồng thời giải quyết nhiều điểm nghẽn: hành lang pháp lý; thị trường; bản quyền; hạ tầng số; cơ chế đầu tư; liên kết công - tư; nhân lực trung gian; năng lực quảng bá, phát hành và mở rộng ra thị trường quốc tế.
Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam phải gắn với công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, thương hiệu quốc gia và hội nhập quốc tế; đồng thời phải tạo được những cụm ngành, những ngành mũi nhọn, những địa bàn động lực và những sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh, lan tỏa, dẫn dắt thị trường.
Cuối cùng, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tạo động lực phát triển văn hóa. Một điểm nhấn quan trọng được nhiều tham luận đề cập là nhu cầu phải đổi mới căn bản tư duy đào tạo nhân lực văn hóa.
Nhân lực văn hóa thời kỳ mới phải có ba năng lực đồng thời: năng lực chuyên môn văn hóa - nghệ thuật; năng lực quản trị và tổ chức; năng lực công nghệ, dữ liệu và thích ứng số. Cùng với đó là yêu cầu phát triển văn hóa lãnh đạo, đạo đức công vụ, tinh thần phục vụ, năng lực liên kết đa ngành và năng lực làm việc trong môi trường toàn cầu hóa.
Từ các tham luận gửi tới Hội thảo, có thể khẳng định rằng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị là một văn kiện có ý nghĩa chiến lược, mở ra một tầm nhìn mới cho phát triển văn hóa Việt Nam.
Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là đưa văn hóa từ vị trí “quan trọng” trở thành vị trí “trung tâm” trong chiến lược phát triển đất nước; đưa phát triển văn hóa từ cách tiếp cận từng lĩnh vực riêng lẻ sang cách tiếp cận hệ sinh thái, liên ngành, hiện đại và hướng tới hiệu quả thực chất.

RSS