“Tiếp biến” AI, bảo tồn văn hóa

TÙNG QUANG

VHO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) vừa lên tiếng cảnh báo: Sự phát triển nhanh của công nghệ dịch thuật tự động dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) đang đẩy hàng nghìn ngôn ngữ có nguy cơ biến mất.

 Lời cảnh báo đáng báo động. Một khi các thiết bị dịch thuật thời gian thực như tai nghe hay kính thông minh tích hợp AI cho phép người dùng giao tiếp trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ nhờ khả năng chuyển đổi ngôn ngữ tức thì cả lời nói và văn bản thì đến lúc nào đó, một câu hỏi sẽ được đặt ra: Chúng ta có cần thiết bỏ tiền bạc và thời gian để học ngoại ngữ?

Không chỉ có vậy. Giới chuyên gia cảnh báo tiện ích này có thể làm suy giảm động lực học ngoại ngữ, từ đó đẩy nhanh quá trình đơn giản hóa ngữ pháp và thu hẹp vốn từ ở nhiều ngôn ngữ. Đồng thời nhận định, khả năng kết nối số đông như tiếng Anh sẽ chiếm ưu thế và dự báo đến năm 2100, số ngôn ngữ còn được sử dụng có thể giảm xuống còn khoảng 600, so với hơn 7.000 hiện nay.

Theo UNESCO, gần 3.000 ngôn ngữ trên thế giới đang đứng trước nguy cơ biến mất, trong khi hơn 200 ngôn ngữ đã không còn được sử dụng kể từ năm 1950 do không còn người truyền lại.

Bên cạnh nỗi lo hàng nghìn ngôn ngữ dần dần biến mất khỏi Trái đất này, canh cánh một nỗi lo khác, thậm chí đáng lo hơn, đó là ngôn ngữ mất “chủ quyền”.

Là một cấu phần của văn hóa, ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là “hồn cốt”, chứa đựng tri thức, văn hóa, tấm gương phản chiếu, lưu giữ tư duy, bản sắc và tri thức bản địa của một dân tộc. Ngôn ngữ chứa đựng các giá trị, biểu tượng, chuẩn mực xã hội và diễn tả toàn bộ hoạt động của cộng đồng, dân tộc.

Thế nhưng, AI được huấn luyện chủ yếu bằng dữ liệu tiếng Anh, nguy cơ bỏ sót hoặc hiểu sai các ngữ cảnh bản địa là rất lớn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả trong các lĩnh vực như dịch vụ khách hàng, tài chính, hay dịch vụ công - nơi yêu cầu cao về sự chính xác và phù hợp văn hóa.

Bởi vậy, khái niệm “AI có chủ quyền” đang nổi lên như một xu hướng quan trọng. Các quốc gia ngày càng chú trọng việc phát triển và kiểm soát hệ thống AI phù hợp với bối cảnh pháp lý, ngôn ngữ, văn hóa và dữ liệu của mình. Điều này đặc biệt quan trọng khi AI xử lý lượng lớn dữ liệu nhạy cảm trong các lĩnh vực như văn hóa, y tế, tài chính và dịch vụ công.

Một ví dụ tiêu biểu là Ấn Độ, quốc gia đã xây dựng thành công hệ sinh thái số với các nền tảng như Aadhaar (định danh số) và UPI (thanh toán điện tử). Nhờ áp dụng tiêu chuẩn mở và chú trọng đa ngôn ngữ, Ấn Độ đã tạo ra môi trường công nghệ linh hoạt, phục vụ hiệu quả cho một xã hội đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa.

Bài học từ Ấn Độ cho thấy, tương lai của AI không nằm ở việc tập trung vào một vài mô hình toàn cầu, mà ở khả năng thích ứng với từng khu vực cụ thể. Một hệ sinh thái AI bền vững phải đảm bảo được sự minh bạch, bảo vệ dữ liệu và tạo dựng niềm tin từ người dùng.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa 4.0, thế giới phẳng nhưng xin lỗi, tiếng nói, chữ viết và nói rộng hơn là văn hóa, không thể “phẳng” được. Đa ngôn ngữ là cơ sở của sự đa dạng văn hóa, một trong những chính sách sống còn mà bấy lâu UNESCO vẫn đeo đuổi. Thế nhưng, sẽ ra sao nếu các quốc gia làm ngược, nắn ngôn ngữ, văn hoá và dữ liệu của mình cho hợp với hệ sinh thái AI mang tính phổ quát?

Từ sự thành công của Ấn Độ, bài toán vẫn đang đặt ra đối với rất nhiều quốc gia khác: Làm sao vừa tiếp nhận các hệ thống AI vừa mang tính toàn cầu, vừa phản ánh đặc thù quốc gia, dân tộc. Hay nói cách khác, “tiếp biến” AI như một công nghệ phổ quát sang AI như một hệ thống linh hoạt, đa ngôn ngữ và đa văn hóa.

Xem ra, bài toán không hề dễ, nhưng không thể không làm. 

Tin liên quan

Ý kiến bạn đọc