Iran muốn biến eo biển Hormuz thành “mỏ tiền” tỉ USD mỗi năm

NGHIÊM THANH

VHO - Iran vừa đưa ra một yêu cầu mới nhằm chấm dứt chiến tranh, trong đó đề nghị công nhận chủ quyền của nước này đối với eo biển Hormuz, động thái có thể giúp Tehran tạo ra nguồn thu lên tới hàng tỉ USD mỗi năm.

Iran muốn biến eo biển Hormuz thành “mỏ tiền” tỉ USD mỗi năm - ảnh 1
Hình ảnh eo biển Hormuz từ vệ tinh. Ảnh: Getty Images

Theo CNN, tuần này, khi một quan chức Iran công bố danh sách các điều kiện nhằm chấm dứt cuộc chiến do Mỹ và Israel khởi xướng, Tehran đã bổ sung một điểm chưa từng xuất hiện trước đây: công nhận chủ quyền của Iran đối với eo biển Hormuz.

Tuyến đường thủy hẹp này từ lâu đã được xem là đòn bẩy chiến lược của Cộng hòa Hồi giáo Iran. Hiện nay, Tehran đang tìm cách biến nó không chỉ thành công cụ gây sức ép mà còn là nguồn thu tiềm năng hàng tỉ USD mỗi năm.

Iran nhiều năm qua đã đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz nếu bị tấn công, song ít người tin rằng kịch bản này sẽ xảy ra hoặc có thể gây gián đoạn lớn đến thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, tác động thực tế gần đây dường như đã mở rộng tham vọng của Tehran, khi nước này tìm cách “thể chế hóa” đòn bẩy chiến lược này.

Hoạt động vận chuyển qua eo biển gần như bị đình trệ sau các cuộc tấn công của Iran, khiến thị trường năng lượng toàn cầu rơi vào tình trạng hỗn loạn, buộc nhiều quốc gia ngoài vùng Vịnh phải triển khai các biện pháp khẩn cấp để đảm bảo nguồn cung nhiên liệu.

“Iran có phần bất ngờ trước sự thành công của chiến lược Hormuz, trước việc nó rẻ và dễ dàng đến mức nào để gây áp lực lên nền kinh tế toàn cầu. Một trong những bài học từ cuộc chiến là họ nhận ra đòn bẩy này và có khả năng sẽ tiếp tục sử dụng trong tương lai, trong đó việc kiếm tiền từ đòn bẩy là một phần”, bà Dina Esfandiary, Trưởng bộ phận Trung Đông của Bloomberg Economicsnhận định. 

Vì sao eo biển Hormuz quan trọng với thị trường dầu mỏ?

Vì sao eo biển Hormuz quan trọng với thị trường dầu mỏ?

VHO - Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải chiến lược vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu mỗi ngày. Bất kỳ gián đoạn nào tại điểm nghẽn này đều có thể khiến giá dầu tăng vọt, làm rung chuyển thị trường năng lượng và gây sức ép lên các nền kinh tế trên thế giới.

Lo ngại về “hệ thống thu phí” tại Hormuz

Mỹ đã sớm nhận thấy rủi ro này. Ngoại trưởng Marco Rubio đã cảnh báo sau cuộc họp G7 tại Pháp ngày 27.3 rằng một trong những thách thức hậu chiến sẽ là nỗ lực của Tehran nhằm thiết lập cơ chế thu phí tại eo biển Hormuz.

“Điều này không chỉ bất hợp pháp mà còn không thể chấp nhận được, đồng thời nguy hiểm đối với thế giới. Điều quan trọng là cộng đồng quốc tế cần có kế hoạch ứng phó”, ông Rubio nói. Các ngoại trưởng G7 cũng nhấn mạnh “sự cần thiết tuyệt đối” phải khôi phục quyền tự do hàng hải an toàn và không thu phí.

Trong khi đó, ông Mojtaba Khamenei trong bài phát biểu đầu tiên với tư cách lãnh đạo tối cao mới của Iran đã nhấn mạnh rằng đòn bẩy phong tỏa eo biển Hormuz “phải tiếp tục được sử dụng”.

Trong các vòng đàm phán trước đây, Iran chủ yếu yêu cầu dỡ bỏ trừng phạt và công nhận quyền phát triển công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình, nhưng chưa từng đề cập đến quyền kiểm soát eo biển Hormuz.

Hiện nay, Tehran phát tín hiệu muốn chính thức hóa đòn bẩy này. Các nhà lập pháp Iran đang xem xét dự luật yêu cầu các quốc gia sử dụng eo biển phải trả phí, trong khi một cố vấn cấp cao đề cập đến việc thiết lập một “chế độ mới cho eo biển Hormuz” sau chiến tranh.

Theo các chuyên gia, hệ thống này có thể cho phép Iran áp đặt hạn chế hàng hải đối với các đối thủ, đồng thời gắn quyền tiếp cận tuyến vận tải chiến lược với các tranh chấp địa chính trị.

Tuy nhiên, ông James Kraska, giáo sư Luật Hàng hải quốc tế tại Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ, cho rằng việc thu phí là vi phạm luật quốc tế. “Không có cơ sở pháp lý nào để một quốc gia ven biển thu phí tại một eo biển quốc tế như Hormuz”, ông nói.

Ông giải thích, eo biển Hormuz là tuyến hàng hải quốc tế với vùng lãnh hải chồng lấn giữa Iran và Oman, nơi quyền quá cảnh được áp dụng cho tất cả các quốc gia, cho phép di chuyển không bị cản trở trên mặt nước, trên không và dưới nước.

Các nguyên tắc này được quy định trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Dù Iran và Mỹ không phải thành viên, nhiều quy định cốt lõi vẫn được coi là luật tập quán quốc tế.

Nguồn thu tiềm năng hàng tỉ USD

Dù vấp phải rào cản pháp lý, Iran vẫn đang tính toán khả năng triển khai cơ chế thu phí và lợi nhuận có thể đạt được.

Theo tính toán của CNN, nếu áp dụng mức phí khoảng 2 triệu USD cho mỗi tàu chở dầu cỡ lớn, với khoảng 10 tàu qua lại mỗi ngày, doanh thu có thể đạt 20 triệu USD/ngày, tương đương 600 triệu USD/tháng. Nếu tính thêm LNG, con số có thể vượt 800 triệu USD/tháng, tương đương 15 – 20% doanh thu xuất khẩu dầu của Iran năm 2024.

Con số này tiệm cận doanh thu từ kênh đào Suez của Ai Cập, vốn dao động 700 – 800 triệu USD/tháng trong điều kiện bình thường.

Theo bà Esfandiary, việc thu phí có thể là cách để Tehran bù đắp những tổn thất kinh tế do lệnh trừng phạt. Iran hiện là một trong những quốc gia bị trừng phạt nặng nề nhất thế giới, chỉ sau Nga.

Đồng thời, Tehran dường như đang thử nghiệm xem một hệ thống kiểm soát hành trình có thể hoạt động như thế nào trên thực tế.

Dữ liệu theo dõi tàu cho thấy một số tàu chở dầu đang di chuyển gần bờ biển Iran hơn, với dấu hiệu cho thấy một số nhà khai thác có thể đã trả phí để đảm bảo an toàn. Tuy chưa có bên nào công khai xác nhận, công ty tình báo hàng hải Lloyd’s List cho biết hơn 20 tàu đã sử dụng một “hành lang mới” qua eo biển, trong đó ít nhất hai tàu được cho là đã trả khoảng 2 triệu USD.

Theo Lloyd’s List, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đã thiết lập hệ thống đăng ký cho các tàu được phê duyệt, trong khi một số chính phủ đang trực tiếp liên hệ với Tehran để đảm bảo hành trình an toàn.