Đại thi hào Nguyễn Du & những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi”

HOÀNG KHÔI - Hội Kiều học Việt Nam

VHO - Nếu chỉ làm một thống kê số học thì hành trình trong cả cuộc đời của Đại thi hào Nguyễn Du chỉ cần ghi lại bằng vài ba nét gạch đầu dòng kiểu lý lịch trích ngang như ta hay dùng theo công nghệ số ngày nay. Vấn đề là qua cuộc hành trình tưởng như đơn giản ấy ta rút ra được nhận xét gì, hiểu được gì về con người nổi tiếng này?

Đại thi hào Nguyễn Du & những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi” - ảnh 1
Có hay không chuyện tình giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương?

Cuộc đời sinh học của Nguyễn Du chỉ khiêm tốn có 55 năm từ khi ra đời năm 1765 tại phường Bích Câu Thăng Long (Hà Nội) đến khi tạ thế ngày 10.8 Canh Thân (1820) tại Phú Xuân (Huế). Cả ông, bà, cha mẹ Nguyễn Du đều sinh trưởng và lập nghiệp ở Tiên Điền (Hà Tĩnh) nhưng tổ nội sáu đời trước thì gốc gác ở Canh Hoạch, Thanh Oai, nay là Dân Hòa, Hà Nội. Gia đình Nguyễn Du là một gia đình có truyền thống học hành, khoa  bảng nổi tiếng cả nghiệp văn lẫn võ. Thân phụ và anh cả của ông cùng là tiến sĩ, cùng làm Tể tướng dưới triều Hậu Lê, nhiều người khác làm quan, làm thầy thuốc, dạy học, nghiên cứu địa lý, kinh dịch...

Nhưng riêng Nguyễn Du thì có những thăng trầm! Mười tuổi ông mất cha,13 tuổi mất mẹ, phải sống dựa vào các anh Nguyễn Khản, Nguyễn Điều và đến 15 tuổi thì sang Hải An, Thái Bình (nay là Hưng Yên) ở nhà ông Đoàn Nguyễn Thục, đồng liêu của cha và anh, sau này thành bố vợ Nguyễn Du. Nguyễn Du được tập ấm chức Chánh thủ hiệu (tương đương với chức Chỉ huy trưởng quân sự) ở Thái Nguyên nhưng đến năm 1786 vì lánh nạn Tây Sơn, ông lại về Thái Bình quê vợ. Đây là thời kỳ thơ ông viết Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán (Hồng Lĩnh không nhà, anh em tan tác)! Đây cũng là thời kỳ được xem là "mười năm gió bụi" của đời ông?

Năm 1795, vợ ông mất, ông đưa người con duy nhất là Tứ về quê Hà Tĩnh. Năm 1802, mùa thu, Gia Long diệt nhà Tây Sơn, lập nước và bổ nhiệm Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung (Hưng Yên), rồi Tri phủ Thường Tín (Hà Nội), rồi Cai Bạ, Quảng Bình (nay là Quảng Trị). Tháng 2.1813 đến tháng 4.1814, ông được giao Chánh sứ sang nhà Thanh, trở về được thăng Hữu Tham tri bộ Lễ (như Thứ trưởng ngày nay).

Ngày 10.8 Canh Thân (16.9.1820), Nguyễn Du mất ở Phú Xuân (Huế), sau một thời gian lâm bệnh. Năm Giáp Thân (1824) được cải táng đưa về Tiên Điền. Năm 1965, Hội đồng Hoà bình thế giới tổ chức kỷ niệm 200 năm sinh Danh nhân văn hóa Nguyễn Du. Năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) có nghị quyết tổ chức kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du vào năm 2015.

Điểm “mờ” trong “mười năm gió bụi”

Tóm tắt hành trình đời ông thì như thế, song chi tiết thì vẫn nhiều chỗ còn hồ nghi, còn những điểm mờ! Hiện có nhiều ý kiến băn khoăn: “Mười năm gió bụi” Nguyễn Du có thật ở 10 năm xứ Thái Bình quê vợ? Nguyễn tuổi trẻ, thân trai, có học thức chắc khó chấp nhận quẩn quanh nơi nhà vợ 10 năm? Thái Bình là vùng cửa biển, rất không an toàn vì hải tặc hay vào cướp phá! Ở 10 năm trời mà thơ viết về vùng này chỉ khoảng 6,7 bài khi ông là một tài năng thơ ca thì lý do quả là chưa thuyết phục? Thời gian Nguyễn Du làm Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên cũng không rõ ràng? Là Chỉ huy trưởng quân sự, ông làm gì khí Tây Sơn tấn công, rồi lại có tin ông trở về quê vợ? Lại có một giả định, Nguyễn Du từng có một hành trình riêng trong vai lữ khách, nhà sư, thầy thuốc... đi lên phương Bắc, bởi có rất nhiều bài thơ ông viết về cảnh vật, con người, sự kiện của Trung Hoa hoàn toàn không trùng với con đường đi sứ năm 1813 sau này?

Còn nữa, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương gặp nhau lúc nào? Chuyện tình của họ trong ba năm ra sao mà thơ Xuân Hương lại đầy ẩn ức? Cuộc sống riêng của Nguyễn Du ra sao với người vợ tao khang và những người con luôn trong tình trạng đói dài "thập khẩu hài nhi thái sắc đồng"? (Mười miệng ăn của trẻ mặt xanh như tàu lá).

Về thái độ chính trị, Nguyễn Du có chống Tây Sơn không? Có nét rất lạ về gia đình ông? Cha anh ông là Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản…, đều là những người tận tâm phò Lê - Trịnh. Một anh nữa, Nguyễn Quýnh còn ra mặt chống Tây Sơn nên làng Tiên Điền bị làm cỏ tan hoang! Nhưng một anh khác, Nguyễn Nễ (Đề), rồi anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, cháu ruột là Nguyễn Thiện thì lại tận tâm phục vụ Tây Sơn? Còn riêng Nguyễn Du thì làm quan một cách âm thầm dưới triều Gia Long và nổi tiếng là một trong An Nam ngũ tuyệt với ông cháu tri âm là Nguyễn Hành nổi danh tài tử?   

Thơ văn Nguyễn Du để lại không ghi thời gian sáng tác, qua thơ ông ta chỉ biết ông từng đi, từng sống nhiều nơi, chứng kiến rất nhiều cảnh đời, cảnh người và suy ngẫm rất sâu về nhân tình thế thái, gửi gắm rất nhiều tâm sự riêng chung.

Thử làm một thống kê, ta thấy Nguyễn Du đã từng ở rất nhiều vùng không gian mà thơ ông đề cập. Ở Việt Nam là Thăng Long nơi sinh, ở Tiên Điền, Hoa Thiều quê cha, quê mẹ Bắc Ninh cũng là nơi chị gái và em trai ông lấy chồng, lấy vợ, lập nghiệp. Ông còn ở Thái Bình quê vợ, ở Thái Nguyên, Hưng Yên, Thường Tín, Quảng Bình, Huế thời làm quan... Dấu chân ông in khắp từ Lạng Sơn vào đến Huế.

Ông giao tiếp với rất nhiều hạng người, lớp gần gũi như cha mẹ, anh em, vợ con, lớp bạn bè đồng liêu, yêu thích văn chương không kể tuổi tác như Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Hành hay cả gia đình họ Nguyễn Huy bên Trường Lưu. Từ nhỏ ông còn được các vị quan to như Hoàng Ngũ Phúc thân mật tặng kiếm, Nguyễn Du tiếp xúc với nhiều tăng ni, phật tử và hiểu biết về Thiền, ông đi sứ chắc cũng tiếp xúc với nhiều đại sứ nước ngoài, được diện kiến vua Thanh.., nhưng hơn hết ông đã được gặp gỡ với rất nhiều quần chúng vô danh, những người dân lao động trên cuộc hành trình tự nguyện ấy. Có lẽ, so với người cùng thời, Nguyễn Du đã có được một vốn kiến văn cực kỳ phong phú để bổ trợ cho những công trình ông sẽ cho ra đời.

Không biết bắt đầu từ lúc nào, ngày tháng nào, thơ Nguyễn Du đã đề cập tới hành trình đến Trường An qua nhiều di tích kim cổ? Ông có qua sông Mịch Giang không, có qua Lỗi Dương,Thanh Liên không mà thơ ông nhắc đến Khuất Nguyên, đến Văn Thiên Tường, đến Đỗ Phủ, Lý Bạch.., với đầy đủ những cảm thông, trăn trở, vui buồn?

Ông đã không ít lần nói lên những điều mà chưa ai nói. Chẳng hạn, ông phê phán Tống Ngọc gọi hồn Khuất Nguyên về! Về làm gì khi mặt đất toàn cọp beo hùm sói!? Đứng trước Đài đá chia kinh, một biểu tượng của tinh thần sùng Phật của cha con Lương Vũ đế, ông ngộ ra điều: Ấy là sự u mê, mù quáng tầm thường của con người, là một tín điều vô nghĩa.

Còn nhiều nữa, Nguyễn Du có phê phán, song ông cũng rất trân trọng nâng niu. Ông sùng kính một nhân cách bất khuất như Nhạc Phi, đức độ như Bùi Độ, cảm thương với bi kịch của Dương Quý Phi.., là những người Trung Quốc nổi danh.

Ông cũng không quên bày tỏ những cảm thông với những thân phận tha hương quyết không chấp nhận chính quyền mới, vẫn cố gắng gìn giữ bản sắc của mình: "Áo mũ người già còn kiểu Hán/Lịch năm trong túi chẳng theo Tàu" (Sơn thôn - bản dịch), kiên định sự bất hợp tác!

Cứ thế, những bài thơ chữ Hán Nguyễn Du viết về Trung Hoa luôn bộc lộ được cái tình của con người vượt ra một không gian cụ thể rồi hướng tới một cái kết là gắn với cảm hứng tiêu dao: "Xoã tóc cuồng ca dạo bước chơi/Bãi sau lộng gió nắng tàn rồi/Mây bay nước chảy còn đây mãi/Âu giỡn chài câu cứ thảnh thơi" (Thôn dạ - bản dịch).

“Tiếng thơ ai động đất trời”

Nói về giá trị nhân văn, tiếng thơ Nguyễn Du là những tiếng đồng cảm sâu sắc với số phận các kiếp người. Cả một trường thiên Văn chiêu hồn ông không chỉ đề cập tới thập loại chúng sinh chết yểu mà gọi tên rất nhiều, rất đủ các hạng người.

Đặc biệt, Nguyễn Du nhiều lần viết về người phụ nữ và dành nhiều cảm thông, nhiều nỗi yêu thương. Không có sự cảm thông sâu sắc này ông không thể xây dựng được một nàng Kiều với đầy đủ các cung bậc của nỗi khổ. Hạnh phúc tối thiểu của người phụ nữ là có chồng, có con, chí ít cũng có một trong hai thứ đó. Nhưng Kiều thì hoàn toàn không có gì!

Với một cảm thông sâu sắc như thế, Nguyễn Du đúng là người "có con mắt trông suốt sáu cõi và tấm lòng nghĩ đến muôn đời". Nguyễn Du đã nói tới những vất vả đau thương của con người trong kiếp phong trần bằng một tổng kết đầy trắc ẩn: "Bắt phong trần phải phong trần/Cho thanh cao mới được phần thanh cao". Đây cũng là một trăn trở nhiều bế tắc, có điều tác giả viết rất hay, rất sâu nên rung động lòng người.

Đọc Truyện Kiều, hầu như ai cũng bắt gặp một chút thân phận mình trong đó nên tác phẩm của Nguyễn Du được người đời sùng kính, được đưa ra để giải đáp, để bói như là một cách giải quyết những ẩn ức của mình. Chính vì thế mà có học giả đã nhận xét một cách chính xác rằng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn". Tiếng ta còn, nước ta còn chính là khẳng định cái bản sắc Việt bền vững của văn hóa Việt Nam vậy.

Nhiều thế hệ Việt Nam đọc Truyện Kiều đều rất chú ý tới nhận định của các học giả trong và ngoài nước, chú ý tới các đánh giá ở những bộ từ điển nổi danh, nhưng có thể ít người biết tới lời đề từ cho tác phẩm này của Đoàn Nguyễn Tuấn, người đồng thời và là anh vợ Nguyễn Du và cũng là người có nhiều ảnh hưởng với ông. Lời đề từ rất súc tích: "Từ đàn lệ ngữ/Duyên các kiều tình/Kiến kiếm bất kiến nhân/Thần hồ kỳ hĩ/Thái hoa nhường mật/Tân khổ vi thùy/Thi phong khởi ngữ/Diệc lãnh đố ngữ" (Lời đẹp chốn văn đàn/Tình hay nơi khuê các/Thấy kiếm chẳng thấy người/Thần kỳ như võ thuật/Hái hoa để ủ mật/Khổ sở biết vì ai/Cất lời văn nổi gió/Đố kỵ phải chịu lơi"(Nguyễn Tiến Đoàn dịch).                               

Truyện Kiều còn được khẳng định là mang tính nhân loại rộng lớn bởi con mắt và tấm lòng tác giả "khi hướng tới các khát vọng hòa bình, chủ nghĩa nhân văn, quyền con người, giá trị gia đình, yêu cầu bình đẳng giới và truyền thống văn hóa Việt " như lời phát biểu của bà Katherine Muler Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam phát biểu trong Lễ kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du tại Việt Nam. Truyện Kiều đã trở thành một của tin, một lòng tin, như cách Tổng thống Mỹ Obama khi trích đọc câu thơ Nguyễn Du: "Của tin gọi một chút này làm ghi".

Hành trình của Nguyễn Du là một hành trình của một tâm hồn trĩu nặng yêu thương, của một con người luôn gắn bó tình đời, tình người sâu sắc. Tiếng thơ Nguyễn Du "động đất trời", là " lời non nước","lời ngàn thu", là "tiếng thương", là "tiếng mẹ ru.., như cách nói của nhà thơ Tố Hữu, nên thơ Nguyễn Du mới có một sức sống mãnh liệt và tràn trề như thế.

Nhưng, ta cũng biết, có được những đóng góp cho muôn đời như thế, Nguyễn Du của chúng ta đã phải gồng mình đến độ nào để có thể trút hết năng lượng cho thơ?

Xin lấy một câu thơ của thi sĩ Tản Đà diễn tả cho nhận xét này. Tản Đà viết: Đường xa, gánh nặng, trời chiều/Cơn giông, biển lớn, mái chèo, thuyền nan! Không gian thì rộng lớn và xa lắc, thời gian thì đã tối đến nơi, biển lớn nổi giông tố, gánh vác thì nặng nề, một mái chèo đơn côi, mảnh thuyền nan bé nhỏ..., thế mà vẫn gắng gỏi, làm hết sức mình! Đúng là một tự nguyện, một hi sinh của một tâm hồn thánh thiện. Nhưng, chấp nhận hành trình này thì Nguyễn Du của chúng ta thành bất tử, trường tồn.