Gia đình thời bao cấp và gia đình thời @

BÙI VĂN TRỌNG CƯỜNG

VHO - Thời bao cấp, sau một tuần làm việc xa nhà, người ta chỉ mong đến chiều thứ bảy để được đạp xe về với vợ con. Bây giờ, không ít người ly hương đến hàng trăm, hàng nghìn cây số, vài tháng, thậm chí vài năm mới có dịp sum họp. Chuyện mưu sinh khiến vợ chồng, cha con phải sống cách xa nhau vốn không mới, nhưng mỗi thời lại có những nỗi vất vả, thiệt thòi riêng. Ngẫm ra, cái “tế bào xã hội” mà chúng ta vẫn quen gọi là gia đình cũng ít nhiều “biến đổi gen” theo thời thế.

Gia đình thời bao cấp và gia đình thời @ - ảnh 1
Mưu sinh xa nhà, nhiều gia đình chỉ được sum họp qua màn hình điện thoại (Tranh minh họa)

Một thời “cắt cơm, bơm xe”

Trở lại với thời kinh tế bao cấp ở miền Bắc XHCN. Thời kỳ này có rất nhiều gia đình phân ly (theo thuật ngữ xã hội học gia đình), tức là vợ chồng, con cái không sống cùng nhau suốt cả một tuần, một tháng... Những gia đình phân ly này sinh tồn theo hình thức: Người chồng sống và làm việc ở cơ quan, xí nghiệp 6 ngày trong tuần, còn các ngày chủ nhật hay lễ, Tết được nghỉ thì về nhà sống với vợ con. Vì thời gian ở gia đình ít ỏi vậy nên ngày đó dân làm công ăn lương thường có câu cửa miệng: “Cắt cơm, bơm xe, nghe thời tiết, liếc đồng hồ”.

“Cắt cơm” tức là báo bếp ăn tập thể là mình không ăn cơm bữa chiều thứ bảy, hai bữa trưa và chiều chủ nhật để hết tháng nhà bếp thanh toán tiền các bữa không ăn nhưng đã đóng tiền từ đầu tháng. “Bơm xe” tức là bơm căng hai lốp xe đạp để lát nữa đạp xe vài ba chục cây số về nhà “ngon ơ”, cứ nhẹ như không để chiều muộn chủ nhật hoặc 4-5 giờ sáng ngày thứ hai lại đạp xe đến nhiệm sở cho kịp giờ làm việc. “Nghe thời tiết” là hóng loa truyền thanh báo tin thời tiết để đề phòng mưa gió bão. “Liếc đồng hồ” là trạng thái sốt ruột, chỉ muốn nhanh đến giờ được nghỉ để có thể lên xe đi ngay; nếu cơ quan quản lý thời gian không chặt chẽ lắm thì có thể về sớm 15-20 phút đến nửa tiếng, có khi 1-2 tiếng.

Khi có điều kiện, một số gia đình phân ly đã hợp lý hóa bằng cách đưa vợ con đến sống ở khu tập thể cơ quan, trong một gian bằng nửa gian nhà cấp 4 rộng chừng 12 đến 18 mét vuông, rồi tìm cách nhập hộ khẩu để gia đình có sổ mua gạo, mua dầu, phiếu mua thực phẩm theo giá nhà nước bao cấp.

Những con số của những cuộc đi xa

Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 của Cục Thống kê, trong 5 năm trước thời điểm điều tra, cả nước có 4 triệu người di cư trong nước, chiếm 4,3% dân số từ 5 tuổi trở lên. Trong đó, 1,6 triệu người di cư giữa các tỉnh. Đông Nam Bộ tiếp nhận 615.000 người từ các vùng khác, riêng Đồng bằng sông Cửu Long có 353.100 người chuyển đến vùng này.

Theo Bộ Nội vụ, năm 2025 có 144.345 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó 48.784 lao động nữ. Nhật Bản tiếp nhận 64.646 người. Trong 9 tháng đầu năm 2026, cả nước có 102.001 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 91,07% kế hoạch năm. Riêng tháng 9 có 11.682 người, trong đó 4.087 lao động nữ.

Các số liệu trên phản ánh sự dịch chuyển dân cư và lao động cả trong nước lẫn ngoài nước, song chưa cho biết cụ thể bao nhiêu người phải sống xa vợ, chồng, con cái hoặc cha mẹ. Đây cũng là một khía cạnh cần được quan tâm khi nhìn nhận những tác động của di cư lao động đối với đời sống gia đình “thời @”.

Mưu sinh xa nhà, mong ngày sum họp

Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, những gia đình phân ly thời bao cấp chỉ còn trong hoài niệm. Tuy nhiên, lại xuất hiện những gia đình phân ly kiểu mới. Những hộ gia đình nghèo hoặc kinh tế không ổn định đã cân nhắc và quyết định để chồng hoặc vợ đi làm ăn ở các tỉnh khác (chủ yếu làm thuê, dịch vụ, buôn bán nhỏ), vài tháng, có khi 1-2 năm mới về thăm gia đình; còn vợ hay chồng ở quê nuôi con, phụng dưỡng bố mẹ già, chăm sóc nhà cửa, ruộng vườn. Người đi làm xa có thể hằng tháng, hằng quý gửi tiền về nhà. Nếu người ở nhà lo liệu đủ sinh hoạt thì người kia gom góp tiền đủ một món kha khá để sửa chữa nhà cửa hoặc tích lũy, để sau này không đi làm xa nữa sẽ có tiền đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các ngành nghề thích hợp.

Không ít gia đình chấp nhận cho người thân đi làm việc ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan... theo diện lao động xuất khẩu. Công việc của họ thường là công việc đã được đào tạo tay nghề, làm trong các nhà máy, công trường, chăm sóc người già yếu, lao động giản đơn. Đồng tiền lương của nước sở tại quy đổi ra Việt Nam đồng khá hấp dẫn, nếu biết chi tiêu thì sau vài năm sẽ có được vốn liếng để về sau có thể thực hiện được những gì chỉ là mơ ước khi còn ở trong nước, như: Xây nhà cao rộng, mua ô tô, xe máy đắt tiền, trang thiết bị sinh hoạt hiện đại, hoặc góp vốn đầu tư cho làm ăn lớn...

Vì ở quá xa nhà, việc đi lại tốn kém nên có khi 4-5 năm họ mới về nhà hẳn hoặc lại đi tiếp, tùy theo từng hoàn cảnh. Như vậy, những gia đình phân ly kiểu mới này phân ly xa hơn, lâu hơn và có lẽ mệt mỏi hơn. Để có nguồn thu nhập trên, họ đã phải trả một cái giá nếu không đến nỗi quá đắt thì cũng không rẻ chút nào: Vợ chồng (nhất là vợ chồng trẻ) xa cách nhau lâu ngày, con cái (nếu đã có) thiếu sự chăm sóc, dạy bảo của bố mẹ, cha mẹ già khắc khoải ngóng chờ con...

Nay, mặc dù có điện thoại thông minh kết nối hình ảnh, tiếng nói của mọi người trong gia đình qua Zalo hay Messenger nhưng vẫn không làm người ta thỏa mãn. Làm sao bằng người thật, việc thật được. Hệ lụy của sự thiếu thốn kia là đã có những cảnh ngộ đáng buồn, như ngoại tình, ly hôn, con cái hư hỏng,... Vậy phải làm gì để khả dĩ khắc phục, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tiêu cực ấy? Không bao giờ có giải pháp mỹ mãn cho tất cả mọi người. Điều tốt nhất đối với mỗi người, mỗi gia đình ở trong hoàn cảnh trên là phải suy nghĩ, tính toán kỹ lưỡng phương án nào phù hợp với điều kiện kinh tế, lứa tuổi, sức khỏe và tâm lý của mỗi thành viên trong gia đình.