Điểm đến Việt Nam đã đủ sức chống chịu trước “cú sốc” du lịch mới?

NGUYỄN ANH; ảnh: HOÀNG TRÀ

VHO - Du lịch thế giới đang bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới, nơi lợi thế của điểm đến không còn được quyết định riêng bởi tài nguyên, giá cả hay tốc độ tăng trưởng khách.

Điểm đến Việt Nam đã đủ sức chống chịu trước “cú sốc” du lịch mới? - ảnh 1
Việt Nam đang có một nền tảng kinh tế khá vững trong một năm thế giới tiếp tục nhiều biến động nhưng điểm đến Việt Nam đã thực sự đủ sức chống chịu với những cú sốc mới của du lịch?

Cú sốc ở bên ngoài đi thẳng vào giá tour

Khả năng đứng vững trước những biến động bất ngờ đang trở thành một tiêu chí quan trọng của năng lực cạnh tranh.

Trong Báo cáo Chỉ số năng lực phát triển du lịch và lữ hành (Travel & Tourism Development Index - TTDI) năm 2026, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) từng cảnh báo ngành Du lịch toàn cầu phải đối mặt với một hệ thống rủi ro ngày càng phức tạp.

Đó là những bất ổn địa chính trị, lạm phát, giá năng lượng, thời tiết cực đoan, thiếu hụt lao động, những thay đổi công nghệ và các cú sốc xã hội.

Xung đột quân sự có thể làm gián đoạn đường bay; giá nhiên liệu tăng có thể đẩy giá vé lên cao; thời tiết cực đoan có thể làm tổn thương hạ tầng và tài nguyên du lịch; suy giảm kinh tế tại các thị trường nguồn có thể nhanh chóng tác động tới nhu cầu đi lại. Những cảnh báo này cũng không còn là câu chuyện xa xôi đối với ngành du lịch Việt Nam.

Việt Nam đang có một nền tảng kinh tế khá vững trong một năm thế giới tiếp tục nhiều biến động. Theo Cục Thống kê, GDP quý III.2026 ước tăng 9,95%, đưa mức tăng GDP 9 tháng lên 9,01%.

Các dự báo quốc tế cũng đặt Việt Nam trong nhóm những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á trong năm nay. ADB dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 đạt 7,8%, đồng thời nhận định triển vọng vẫn tích cực dù các rủi ro bên ngoài gia tăng.

Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, môi trường chính trị - xã hội ổn định và năng lực hội nhập ngày càng cao đang tạo cho du lịch một điểm tựa quan trọng. Việt Nam cũng đang duy trì sức hút với khách quốc tế.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón trên 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 9.2026, lượng khách quốc tế đạt 1,77 triệu lượt, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước.

Song du lịch là một ngành có độ mở rất lớn. Một biến động diễn ra ở bên ngoài lãnh thổ vẫn có thể tác động đến hoạt động kinh doanh trong nước thông qua giá nhiên liệu, hàng không, vận tải, tỉ giá, chi phí lưu trú và sức mua của du khách.

Giá xăng dầu là một ví dụ điển hình. Cục Thống kê ghi nhận CPI tháng 9.2026 tăng 0,62% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới.

Bình quân 9 tháng, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng làm gia tăng rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và vận tải quốc tế.

Với du lịch, giá nhiên liệu tăng không chỉ tác động tới chi phí của một chuyến bay. Hàng không phải điều chỉnh bài toán khai thác; doanh nghiệp lữ hành phải tính lại giá tour; vận tải mặt đất chịu thêm áp lực; khách du lịch cân nhắc kỹ hơn về ngân sách.

Kỳ nghỉ có thể vẫn được du khách lựa chọn, nhưng thời gian lưu trú, loại hình lưu trú, phương tiện di chuyển và mức chi tiêu có thể thay đổi.

Năm 2026, tác động ấy đã xuất hiện ở quy mô quốc tế. Theo Tourism Economics, cú sốc năng lượng liên quan đến xung đột tại Iran từng đẩy giá dầu tăng mạnh, trong khi giá nhiên liệu hàng không tăng nhanh, tạo sức ép lên giá vé và nhu cầu hàng không.

Reuters ngày 23.10 cũng ghi nhận các hãng hàng không Mỹ đang chịu sức ép lớn từ giá nhiên liệu máy bay tăng, trong khi giá vé bình quân đã tăng gần 23% trong bảy tháng tính tới tháng 9.

Một nền kinh tế ổn định không có nghĩa là “miễn nhiễm” với những cú sốc như vậy. Điểm quan trọng nằm ở khả năng hấp thụ và phân tán tác động.

Việt Nam đang có những “tấm đệm” quan trọng

Nếu nhìn vào TTDI 2026, Việt Nam đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để duy trì sức chống chịu.

Việt Nam đạt 4,15 điểm, tăng 6,1% và đứng thứ 52/110 nền kinh tế trên toàn thế giới trong Báo cáo TTDI năm 2026, tăng 7 bậc so với năm 2024.

Trong số 17 trụ cột được WEF đánh giá, có 7 trụ cột của Việt Nam lọt nhóm 35 nền kinh tế đứng đầu thế giới. Năng lực cạnh tranh về giá đứng thứ 7, an toàn và an ninh đứng thứ 9, tài nguyên văn hóa đứng thứ 21, tài nguyên tự nhiên đứng thứ 22, tính bền vững của nhu cầu du lịch đứng thứ 27 và hạ tầng vận tải hàng không đứng thứ 34.

Đây là những lợi thế đặc biệt có ý nghĩa khi du lịch thế giới bước vào giai đoạn nhiều biến động. An toàn và an ninh đứng thứ 9 giúp Việt Nam có một lợi thế rất rõ trong tâm lý lựa chọn điểm đến.

Khi bất ổn địa chính trị khiến du khách quan tâm nhiều hơn tới an toàn, khả năng duy trì môi trường ổn định trở thành một yếu tố cạnh tranh thực tế.

Giá cả cũng là một lớp đệm. Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về năng lực cạnh tranh giá trong TTDI 2026. Khi chi phí đi lại quốc tế tăng lên, một điểm đến có mức chi phí hợp lý có thể giữ được sức hấp dẫn tốt hơn nếu chất lượng dịch vụ vẫn bảo đảm.

Cấu trúc thị trường khách cũng đang tạo thêm dư địa chống chịu. 9 tháng đầu năm 2026, 10 thị trường lớn nhất chiếm trên 70% tổng lượng khách quốc tế, nhưng cơ cấu thị trường đang có sự đa dạng hơn, với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga, Đài Loan (Trung Quốc), Mỹ, Campuchia, Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines và Australia cùng nằm trong nhóm dẫn đầu.

Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam nhận định sự đa dạng hóa thị trường tạo nền tảng để duy trì tăng trưởng ổn định trước những bất định toàn cầu. Đây là điểm rất quan trọng.

Một điểm đến phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường sẽ dễ bị tổn thương khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, thay đổi chính sách hoặc gián đoạn hàng không tại chính những thị trường ấy. Khi nguồn khách được phân bổ rộng hơn, một cú giảm ở thị trường này có thể được bù đắp phần nào bởi thị trường khác.

Sức chống chịu không chỉ là khả năng giữ khách

WEF đặt vấn đề rộng hơn nhiều so với việc duy trì lượng khách. Báo cáo TTDI 2024 nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một ngành Du lịch toàn cầu có khả năng chống chịu, bao trùm và bền vững.

Đồng thời khuyến nghị các quốc gia tăng cường lực lượng lao động, đặt cộng đồng ở vị trí trung tâm, quản trị hành vi du khách và hạ tầng, ứng dụng công nghệ vào quản lý rủi ro, nâng cao khả năng kết nối và sử dụng tài nguyên tự nhiên một cách có trách nhiệm.

Với Việt Nam, câu chuyện ấy càng trở nên cấp thiết khi tốc độ tăng trưởng đang rất cao. Tăng trưởng nhanh tạo ra cơ hội, đồng thời làm lộ rõ những điểm dễ tổn thương. Hạ tầng du lịch phải theo kịp lượng khách.

Hàng không cần đủ năng lực mở rộng đường bay nhưng cũng phải có phương án khi chi phí nhiên liệu tăng hoặc các tuyến bay quốc tế bị ảnh hưởng. Doanh nghiệp cần có khả năng điều chỉnh sản phẩm nhanh khi thị trường thay đổi.

Điểm đến phải có phương án ứng phó với thời tiết cực đoan, quá tải, thiếu lao động hoặc những gián đoạn bất ngờ.

TTDI 2026 đã chỉ ra khá rõ những phần việc Việt Nam cần tiếp tục cải thiện. Hạ tầng và dịch vụ du lịch đứng thứ 74; bền vững môi trường đứng thứ 76; mức độ ưu tiên cho du lịch đứng thứ 97; tác động kinh tế - xã hội của du lịch đứng thứ 106.

Những thứ hạng này cần được nhìn nhận và tính toán một cách nghiêm túc để cải thiện. Việt Nam đang có lợi thế rất mạnh về an toàn, giá cả, tài nguyên và kết nối, nhưng năng lực chống chịu dài hạn còn phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng, quản trị điểm đến, môi trường và khả năng để người dân địa phương hưởng lợi thực chất từ du lịch.

Điểm đến Việt Nam đã đủ sức chống chịu trước “cú sốc” du lịch mới? - ảnh 2
Trong cuộc cạnh tranh mới của du lịch thế giới, Việt Nam đang có một tài sản rất đặc biệt: sự ổn định

Không thể đứng ngoài những “cơn sóng” của thế giới

WEF không dự báo ngành Du lịch sẽ bước vào một thời kỳ khủng hoảng liên tục. Điều tổ chức này đặt ra là một cách nhìn mới về năng lực phát triển. Du lịch phải được chuẩn bị cho những rủi ro có thể xuất hiện đồng thời, trong đó một cú sốc có thể kéo theo nhiều hệ quả khác.

Những cuộc xung đột làm giá năng lượng tăng. Giá năng lượng làm chi phí hàng không tăng. Giá vé tăng tác động đến nhu cầu du lịch của du khách. Nhu cầu giảm gây sức ép lên doanh nghiệp. Doanh nghiệp giảm hoạt động ảnh hưởng đến lao động và cộng đồng địa phương.

Một chuỗi tác động như vậy có thể diễn ra nhanh hơn khả năng điều chỉnh của những điểm đến thiếu năng lực dự phòng. WEF cũng ghi nhận những bất ổn kinh tế, giá năng lượng cao và xung đột địa chính trị đang làm môi trường hoạt động của ngành du lịch toàn cầu khó khăn hơn.

Việt Nam khó có thể kiểm soát những biến động phát sinh bên ngoài. Nhưng Việt Nam có thể kiểm soát tốt hơn mức độ tổn thương của chính mình.

Đó là lý do câu chuyện chống chịu cần được đặt cùng với đa dạng hóa thị trường, mở rộng kết nối hàng không, nâng chất lượng sản phẩm, tăng khả năng lưu trú dài ngày, phát triển kinh tế đêm, thúc đẩy du lịch quanh năm và xây dựng những sản phẩm có sức cạnh tranh ngay cả khi chi phí đi lại tăng.

Khả năng chống chịu cũng cần được tính trong từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp du lịch không thể chỉ chờ thị trường thuận lợi. Họ cần có nhiều phân khúc khách, nhiều phương thức bán, khả năng điều chỉnh giá, sản phẩm linh hoạt và năng lực sử dụng dữ liệu để dự báo nhu cầu.

Ở cấp điểm đến, bài toán cũng tương tự. Một địa phương phụ thuộc quá lớn vào một tài nguyên hoặc du lịch mùa vụ sẽ dễ bị tổn thương khi thời tiết thay đổi, đường bay gián đoạn hoặc thị trường khách suy giảm. Những điểm đến có nhiều sản phẩm, nhiều phân khúc khách và nhiều phương thức tiếp cận sẽ có dư địa điều chỉnh tốt hơn.

Lợi thế lớn nhất vẫn là sự ổn định

Trong cuộc cạnh tranh mới của du lịch thế giới, Việt Nam đang có một tài sản rất đặc biệt, đó là sự ổn định.

Kinh tế trong nước của Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, xã hội ổn định, an ninh, an toàn được quốc tế đánh giá cao, thị trường khách tiếp tục mở rộng, năng lực kết nối hàng không được cải thiện, tài nguyên văn hóa và tự nhiên phong phú.

Những yếu tố ấy giúp Việt Nam đứng vững khá tốt khi ngành Du lịch toàn cầu phải đối diện với những cú sốc liên tiếp. Song sự ổn định không nên được hiểu là trạng thái bất biến.

Một điểm đến có sức chống chịu tốt phải có khả năng điều chỉnh nhanh khi giá nhiên liệu tăng, thị trường thay đổi hoặc một tuyến bay bị gián đoạn.

Bên cạnh đó, cần giữ được sức hấp dẫn khi khách quốc tế thắt chặt ngân sách; bảo vệ tài nguyên khi thời tiết cực đoan gia tăng; bảo đảm người lao động và cộng đồng địa phương vẫn nhận được lợi ích khi thị trường biến động.

Đó cũng là cấp độ cạnh tranh mới của du lịch Việt Nam. Nếu trước đây sức hấp dẫn của điểm đến thường được đo bằng lượng khách, doanh thu hay những tài nguyên nổi tiếng, thì trong một thế giới nhiều bất định, vấn đề khó hơn đang xuất hiện: Khi những cú sốc xảy ra, điểm đến có thể giữ được bao nhiêu năng lực vận hành, bao nhiêu thị trường khách, bao nhiêu doanh nghiệp và bao nhiêu giá trị cho cộng đồng?

Việt Nam đang có nền tảng tốt để trả lời câu hỏi ấy. Tăng trưởng kinh tế cao và sự ổn định tạo ra “tấm đệm” quan trọng. Thứ cần tiếp tục được củng cố là năng lực quản trị rủi ro, hạ tầng, hàng không, thị trường, sản phẩm và sức khỏe của hệ sinh thái du lịch.

WEF đặt khả năng chống chịu vào trung tâm của tương lai du lịch. Với Việt Nam, đây không phải câu chuyện chuẩn bị cho cú sốc duy nhất. Đó là năng lực duy trì đà tăng trưởng trong một thế giới mà những biến động địa chính trị, năng lượng, kinh tế, khí hậu và công nghệ có thể xuất hiện cùng lúc.