Quy định mới về kỷ luật tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm
VHO - Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quy định số 212-QĐ/TW ngày 17.8.2026 về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm.

Thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời
Quy định số 212-QĐ/TW nêu rõ, tất cả tổ chức Đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời. Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức Đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.
Thi hành kỷ luật phải đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền, theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.
Khi xem xét kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra.
Một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần.
Sau 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng có hiệu lực (trừ quyết định kỷ luật khai trừ đối với đảng viên hoặc quyết định kỷ luật giải tán đối với tổ chức Đảng), nếu tổ chức Đảng, đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.
Theo Quy định số 212-QĐ/TW, tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, sai, thì tổ chức Đảng ra quyết định kỷ luật phải hủy bỏ hoặc thay đổi quyết định kỷ luật cho phù hợp; tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan; nếu tổ chức Đảng không thực hiện thì tổ chức Đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức Đảng đã ra quyết định kỷ luật oan, sai, nếu có vi phạm đến mức phải kỷ luật thì xử lý theo quy định.
Đối với tổ chức Đảng bị kỷ luật, tổ chức Đảng nơi đảng viên bị kỷ luật sinh hoạt đã chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc kết thúc hoạt động thì việc công bố quyết định kỷ luật thực hiện ở tổ chức Đảng đã tiếp nhận việc chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc tổ chức Đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức Đảng đó.
Kỷ luật tổ chức Đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức Đảng.
Đảng viên trong tổ chức Đảng bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức Đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên; đảng viên không bị kỷ luật về cá nhân vẫn được tổ chức Đảng có thẩm quyền xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định. Đảng viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức Đảng cũng phải ghi rõ vào lý lịch đảng viên.
Hình thức kỷ luật với tổ chức Đảng và đảng viên
Trong Quy định số 212-QĐ/TW nêu rõ, đảng viên vi phạm pháp luật phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đảng viên vi phạm bị truy nã, tạm giam hoặc bị tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì tổ chức Đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ, đối với đảng viên dự bị thì quyết định xóa tên trong danh sách đảng viên...
Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác).
Trong cùng một vụ việc có nhiều đảng viên vi phạm thì mỗi đảng viên phải bị kỷ luật về hành vi vi phạm của mình. Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có vi phạm ở tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị cũ đến mức phải kỷ luật thì xem xét kỷ luật theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Về thời hiệu kỷ luật, Quy định số 212-QĐ/TW xác định đối với tổ chức Đảng vi phạm là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo.
Đối với đảng viên, thời hiệu kỷ luật là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.
Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Quy định số 212-QĐ/TW xác định cụ thể các hình thức kỷ luật đối với tổ chức Đảng, gồm: khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ; đối với đảng viên dự bị gồm: khiển trách, cảnh cáo.
Xác định cụ thể các vi phạm và kỷ luật tổ chức Đảng vi phạm
Một trong những nội dung đáng chú ý, Quy định số 212-QĐ/TW xác định cụ thể các vi phạm và kỷ luật tổ chức Đảng vi phạm.
Cụ thể là những vi phạm chủ trương, quy định của Đảng; vi phạm trong các lĩnh vực về công tác tổ chức, cán bộ và công tác đảng viên; quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước; về kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đầu tư, xây dựng cơ bản; kinh tế, tài chính, ngân hàng; tài nguyên, đất đai, nhà ở; giáo dục, y tế, văn hóa-xã hội; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;…
Đối với đảng viên, Quy định nêu các hành vi vi phạm và kỷ luật đảng viên vi phạm về quan điểm chính trị và chính trị nội bộ, vi phạm quy định bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước; vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; vi phạm quy định phát ngôn và tuyên truyền, về thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ; vi phạm quy định về quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài; vi phạm về cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ…
Một trong những nội dung đáng chú ý, Quy định số 212 quy định cụ thể việc xử lý kỷ luật đối với tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với tổ chức Đảng, một số hành vi vi phạm gồm: không chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc xử lý hoặc không kịp thời xử lý tổ chức Đảng, đảng viên thuộc phạm vi quản lý vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực này trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, văn bản trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo hoặc thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo để tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý vi phạm hoặc không chấp hành chỉ đạo của cấp có thẩm quyền…
Với đảng viên, quy định nêu các hành vi vi phạm như: cản trở, gây khó khăn cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hợp pháp; nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai, xử lý, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký của người khác, tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin trái quy định…
Về điều khoản thi hành, Quy định số 212-QĐ/TW nêu rõ trách nhiệm các Cấp ủy, tổ chức Đảng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, phổ biến, quán triệt và thực hiện nghiêm Quy định. Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương Đảng và tổ chức Đảng có liên quan đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quy định; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Quy định số 212-QĐ/TW có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6.7.2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm và Quy định số 264-QĐ/TW, ngày 14.2.2025 của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW. Quy định được phổ biến đến Chi bộ.
Quy định số 212-QĐ/TW ngày 17.8.2026 về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm

RSS