Quảng Ngãi mở không gian du lịch xanh từ rừng đến biển, đảo
VHO - Từ đại ngàn đến biển, đảo, Quảng Ngãi đang từng bước định hình không gian du lịch xanh, nơi bảo tồn thiên nhiên, gìn giữ văn hóa gắn với tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Hành trình xanh từ đại ngàn
Theo Nghị quyết số 08-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 về phát triển du lịch bền vững, Quảng Ngãi xác định du lịch phải phát triển song hành với bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm lợi ích của cộng đồng.
Định hướng này cho thấy tư duy phát triển du lịch đang chuyển từ chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng, thời gian lưu trú và trải nghiệm của du khách. Du lịch không chỉ tạo nguồn thu mà còn phải góp phần bảo vệ hệ sinh thái, tạo sinh kế và nâng cao đời sống người dân.
Quảng Ngãi sở hữu không gian địa lí đa dạng, từ vùng núi, cao nguyên đến đồng bằng, ven biển và hải đảo. Đây là nền tảng để tỉnh phát triển những sản phẩm du lịch xanh giàu trải nghiệm.
Tại khu vực miền núi phía Tây, tài nguyên rừng, hệ sinh thái tự nhiên, thác suối, cảnh quan và văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số được xác định là những lợi thế quan trọng để phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm.

Nghị quyết định hướng khai thác các giá trị từ rừng theo hướng có kiểm soát, gắn phát triển du lịch với bảo tồn đa dạng sinh học. Các khu rừng đặc dụng, Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Vườn quốc gia Chư Mom Ray cùng những cảnh quan tự nhiên độc đáo sẽ được nghiên cứu để hình thành sản phẩm du lịch mới.
Đặc biệt, các giá trị đặc hữu như Sâm Ngọc Linh, dược liệu, không gian văn hóa cồng chiêng và đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số có thể trở thành những trải nghiệm riêng có, đồng thời mở thêm sinh kế cho người dân.
Cùng với cảnh quan, các sản phẩm nghề truyền thống, OCOP, đặc sản ẩm thực, quà lưu niệm và dược liệu địa phương được định hướng kết nối với hoạt động du lịch. Người dân không chỉ cung cấp dịch vụ mà trở thành chủ thể tham gia, qua đó biến giá trị bản địa thành nguồn lực phát triển nhưng vẫn giữ được bản sắc.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, Quảng Ngãi phấn đấu đón khoảng 10 triệu lượt khách, trong đó 550.000 lượt khách quốc tế; doanh thu khoảng 7.400 tỉ đồng. Du lịch đóng góp bình quân khoảng 5% vào GRDP và giải quyết việc làm cho khoảng 21.000 lao động.
Kết nối cao nguyên với biển, đảo
Đến năm 2030, tỉnh định hướng hình thành tam giác phát triển du lịch với ba hạt nhân: Trung tâm du lịch biển - đảo Lý Sơn, Khu du lịch Măng Đen và Di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh. Từ ba cực này, các tuyến du lịch kết nối cao nguyên với biển đảo được hình thành, mở rộng không gian trải nghiệm và tạo sự liên kết giữa các vùng.
Tại Lý Sơn, du lịch biển đảo được định hướng gắn với hệ sinh thái, địa chất, cảnh quan và các giá trị văn hóa về chủ quyền biển đảo. Những hoạt động như tham quan, tắm biển, lặn biển, chèo kayak và thể thao biển được phát triển song hành với yêu cầu bảo vệ môi trường.
Các giá trị văn hóa như Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, di tích gắn với Hải đội Hoàng Sa, lễ hội đua thuyền truyền thống tứ linh tiếp tục được phát huy, góp phần tạo nên thương hiệu riêng cho điểm đến.

Trong khi đó, không gian văn hóa Sa Huỳnh được định hướng trở thành điểm đến trải nghiệm văn hóa - lịch sử - khảo cổ. Nghề làm muối, nghề gốm cùng những giá trị di sản vật thể, phi vật thể sẽ được kết nối với sản phẩm du lịch, giúp du khách hiểu sâu hơn về lịch sử và đời sống cư dân vùng đất này.
Ở phía Tây, văn hóa cồng chiêng, lễ hội truyền thống, nghề thủ công và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số được kết nối với du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm.
Khi văn hóa trở thành một phần của sản phẩm du lịch, cộng đồng sẽ có thêm động lực gìn giữ di sản và có nguồn thu từ chính những giá trị mà mình đang sở hữu.
Tỉnh đặt mục tiêu thời gian lưu trú bình quân của du khách đạt 3 ngày. Qua đó cho thấy Quảng Ngãi không chỉ hướng đến thu hút khách mà còn chú trọng tạo sản phẩm đủ sức giữ chân du khách lâu hơn.
Cùng với đó là phát triển kinh tế đêm, tuyến phố đi bộ, khu trình diễn di sản văn hóa, tuyến caravan và các sản phẩm gắn với công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản.

Để tăng trưởng xanh đi vào thực chất, Nghị quyết đặt ra nhiều nhiệm vụ về quản lý tài nguyên và môi trường du lịch. Quảng Ngãi sẽ xây dựng quy chế quản lý tài nguyên, các khu, điểm du lịch; tăng cường kiểm soát ô nhiễm; đầu tư hệ thống nhà vệ sinh đạt chuẩn; nâng cao hiệu quả thu gom, xử lí rác thải trên mặt đất và mặt nước.
Đây là những yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với các điểm đến nhạy cảm về sinh thái như biển đảo, rừng và du lịch cộng đồng. Một bãi biển sạch, cánh rừng được bảo vệ hay điểm du lịch không rác thải sẽ góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng trải nghiệm và sức cạnh tranh của điểm đến.
Cùng với bảo vệ môi trường, chuyển đổi số được xác định là công cụ hỗ trợ quản lý và quảng bá. Dữ liệu du lịch dùng chung, bản đồ số, nền tảng quảng bá và quản lý điểm đến thông minh sẽ từng bước được triển khai, giúp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên và tạo thuận lợi cho du khách.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh xây dựng con người Quảng Ngãi văn minh, thân thiện, nghĩa tình, xem văn hóa và con người là nền tảng, động lực nội sinh của du lịch bền vững. Hình ảnh “mỗi người dân là một đại sứ du lịch của địa phương” được đặt trong mối quan hệ với ý thức bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa và xây dựng hình ảnh điểm đến.

Tỉnh phấn đấu Khu du lịch biển Mỹ Khê, Khu du lịch sinh thái Măng Đen và đặc khu Lý Sơn đạt chuẩn khu du lịch cấp quốc gia; Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển đảo quốc gia.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Quảng Ngãi không chỉ cần hạ tầng hiện đại và những dự án quy mô lớn mà còn phải bảo vệ những giá trị làm nên sự khác biệt của vùng đất: màu xanh đại ngàn, hệ sinh thái biển đảo, văn hóa Sa Huỳnh, không gian cồng chiêng, những lễ hội truyền thống và bản sắc cộng đồng.
Khi rừng, cao nguyên, biển, đảo được kết nối bằng những sản phẩm có trách nhiệm; khi cộng đồng trở thành chủ thể và bảo tồn song hành với phát triển, Quảng Ngãi có cơ sở hình thành một thương hiệu du lịch xanh giàu bản sắc.

RSS