Mãi vang vọng lời thề giữ đảo

MAI THẮNG

VHO - Ngày 14.3 - ngày mà cách đây 38 năm, 64 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Công binh 83 Hải quân đã anh dũng chiến đấu bảo vệ các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao giữa trùng khơi Trường Sa. Trong buổi sáng đầy khói súng ấy, nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển mẹ của Tổ quốc, để lại phía sau một lời thề giữ đảo vẫn còn vang vọng đến hôm nay.

 Gần bốn thập kỷ trôi qua, ký ức về buổi sáng định mệnh ấy vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí những người lính còn sống. Với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lanh, lời thề giữ đảo của đồng đội trước khi ngã xuống vẫn vang vọng như mới hôm qua.

Mãi vang vọng lời thề giữ đảo - ảnh 1
Đảo Cô Lin - hòn đảo nhỏ 38 năm trước diễn ra trận “hải chiến Trường Sa”

Trước giờ súng nổ

Gặp Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lanh - người lính hải quân đã sống sót trở về sau trận chiến Gạc Ma cách đây 38 năm, mái tóc từng xanh đen ngày nào giờ đã bạc đi nhiều, phần vì tuổi tác, phần vì những năm tháng mưu sinh của một cựu binh trở về đời thường.

Thế nhưng mỗi khi nhắc đến buổi sáng 14.3.1988, ký ức dường như vẫn còn nguyên vẹn trong ông. “Thời điểm đó, lực lượng của ta chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ Hải quân trên các tàu vận tải và anh em công binh ra xây dựng đảo”, ông Lanh bắt đầu câu chuyện. Trong tay họ chỉ có những công cụ lao động quen thuộc như cuốc, xẻng, xà beng cùng một số súng bộ binh để tự vệ. Trong khi đó, phía bên kia là tàu chiến với vũ khí hạng nặng”, ông nói chậm rãi.

Khoảng 16 giờ ngày 13.3.1988, các tàu HQ-604, HQ-505 cơ động đến khu vực hai bãi đá Gạc Ma và Cô Lin, thả neo an toàn. Trên tàu HQ-604 khi ấy có cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Công binh 83 (nay là Lữ đoàn Công binh 83) cùng nhiều vật tư, vật liệu chuẩn bị xây dựng công trình trên đảo.

Sáng sớm hôm sau, việc chuyển vật tư lên bãi đá Gạc Ma bắt đầu. Những chiếc xuồng nhỏ nối nhau rẽ sóng. Trên bãi san hô trắng giữa trùng khơi, từng kiện vật liệu được chuyền tay nhau đưa lên bãi đá chuẩn bị cho công trình khẳng định chủ quyền của Việt Nam giữa Biển Đông. Nhưng sự yên bình ấy không kéo dài. Nhiều tàu chiến của đối phương xuất hiện, tiến sát khu vực, quay pháo uy hiếp. Từ loa phát thanh trên tàu, họ liên tục yêu cầu lực lượng Việt Nam rời khỏi bãi đá.

Ông Lanh nhớ lại: “Chúng tôi vẫn bình tĩnh, không rời vị trí, khi đó ai cũng xác định, dù phải hy sinh cũng phải bám trụ, giữ bãi đá đến cùng”.

Giữa bãi san hô nhỏ giữa trùng khơi hôm ấy, những người lính trẻ đã chọn ở lại. Ai cũng quyết chiến đấu, ai cũng sẵn sàng hi sinh để giữ đảo.

Giữ lá cờ giữa bãi đá Gạc Ma

Mãi vang vọng lời thề giữ đảo - ảnh 2
Mỗi năm đến ngày 14.4, nhiều cựu binh Gạc Ma lại trở về khu tưởng niệm “Những người nằm lại phía chân trời” để dâng hương, thắp lên những ngôi mộ gió

Ông Lanh trầm ngâm khi nhắc đến khoảnh khắc bước ngoặt của trận chiến- bước ngoặt của buổi sáng định mệnh ấy: “Khoảng 6 giờ sáng hôm đó, chúng tôi chưa kịp ăn sáng thì anh Trần Văn Phương, Phó đảo trưởng Gạc Ma, cùng anh Lê Hữu Thảo và khoảng 20 anh em được lệnh rời tàu HQ-604, dùng xuồng tiếp cận bãi đá để bảo vệ lá cờ Tổ quốc”.

Biển Trường Sa vào đầu xuân lạnh buốt. Trong làn sương sớm bảng lảng trên mặt nước, những người lính trẻ chỉ kịp truyền tay nhau điếu thuốc cho đỡ lạnh. Không ai nói nhiều, ai cũng hiểu nhiệm vụ phía trước. “Khi lá cờ đỏ sao vàng được truyền đến tay anh Phương, anh vừa kịp cắm xuống bãi đá thì đối phương bất ngờ đổ bộ. Chúng tôi nắm chặt tay nhau thành một vòng, hướng về phía đối phương” - ông Lanh nhớ lại.

 Từ tàu HQ-604, tiếng chỉ huy vang lên giữa gió biển: “Ai biết bơi thì bơi ngay vào đảo hỗ trợ anh em”. Không chần chừ, ông Lanh cùng nhiều chiến sĩ lập tức nhảy xuống biển. Sóng dập dềnh, nước lạnh buốt, tiếng loa, tiếng động cơ tàu và tiếng hô vang lên giữa không gian căng thẳng.“Khi chúng tôi vừa bơi tới nơi thì đối phương nổ súng. Anh Phương trúng đạn. Tôi lao tới giữ lấy cán cờ từ tay anh, tay kia cầm xà beng chống trả”, ông kể.

Mãi vang vọng lời thề giữ đảo - ảnh 3
Thế hệ trẻ đến khu tưởng niệm“Những người nằm lại phía chân trời” họ xúc động khi được nghe câu chuyện về các chiến sĩ Gạc Ma ngày ấy

Nói đến đây, ông Lanh dừng lại khá lâu. Đôi mắt người lính già đỏ hoe. “Cho đến bây giờ, tôi vẫn không quên những lời nói cuối cùng của anh Phương đã nói: Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống Quân chủng Hải quân anh hùng. Ít phút sau, anh ngã xuống trên bãi đá. Ngay sau đó tôi cũng bị một nhát lưỡi lê đâm từ phía sau, đồng thời trúng đạn vào vai rồi ngất đi giữa bãi đá”, ông Lanh lặng lẽ hồi tưởng.

Giữa trùng khơi năm ấy, nhiều người lính đã ngã xuống. Nhưng lá cờ Tổ quốc trên bãi đá Gạc Ma vẫn được giữ lại bằng chính máu của họ.

Nỗi day dứt của người lính trở về từ Gạc Ma

Mãi vang vọng lời thề giữ đảo - ảnh 4
Người lính trẻ dưới ngọn cờ Tổ quốc Cô Lin

Sau khi bị thương trong trận chiến, ông Lanh được đồng đội đưa về đảo Sinh Tồn sơ cứu, rồi được trực thăng của Quân chủng Hải quân chuyển về Bệnh viện Quân y 175 (TP.HCM) cấp cứu. Vết thương rất nặng, cánh tay phải của ông gần như bị liệt hoàn toàn.

Năm 1989, các bác sĩ tại Bệnh viện 103 (Hà Nội) tiến hành phẫu thuật nối lại đoạn gân bị đứt. Ca mổ thành công, nhưng phải mất gần bốn năm sau cánh tay của ông mới dần hồi phục. Cũng trong năm ấy, khi mới 23 tuổi, Nguyễn Văn Lanh được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Điều day dứt nhất sau trận chiến không phải là những vết thương còn hằn trên cơ thể, mà là những đồng đội đã mãi mãi nằm lại giữa biển khơi. Bởi trong trận chiến bi hùng ấy, 64 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Nhiều người trong số họ đến nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt, xương cốt vẫn nằm lại đâu đó dưới lòng biển sâu, quanh bãi cạn Gạc Ma - nơi họ đã ngã xuống khi đang giữ lá cờ Tổ quốc.

Mãi vang vọng lời thề giữ đảo - ảnh 5
Tác giả tại đảo Cô Lin

Nhắc đến điều ấy, giọng ông Lanh chùng xuống. Ông nói rằng những người sống sót trở về như ông luôn mang trong lòng một nỗi day dứt khó nguôi. “Chúng tôi may mắn được trở về, còn nhiều anh em thì vẫn nằm lại ngoài biển. Nhiều gia đình đến giờ vẫn chưa một lần được đón các anh về đất mẹ”, ông nói.

Lời thề vẫn còn vang giữa sóng

Ba mươi tám năm đã trôi qua. Sóng biển Trường Sa có thể xóa nhòa nhiều dấu vết của trận chiến năm ấy, nhưng ký ức về những người lính đã ngã xuống vì chủ quyền biển đảo của Tổ quốc thì không bao giờ phai trong lòng những người còn sống.

Trong câu chuyện của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lanh, điều còn đọng lại sâu sắc nhất vẫn là lời thề của người đồng đội năm xưa giữa bãi đá Gạc Ma. Lời thề ấy không chỉ được thốt lên trong khoảnh khắc sinh tử, mà theo năm tháng đã trở thành niềm tin, thành ý chí của những người lính biển: dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ vẫn kiên cường bám trụ, một tấc không đi, một ly không rời đảo.

Mãi vang vọng lời thề giữ đảo - ảnh 6
Tượng đài Gạc Ma - Tượng đài bất tử

Giữa trùng khơi Trường Sa hôm nay, lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay trên những đảo đá, những nhà giàn giữa biển. Lá cờ ấy như một lời nhắc nhớ lặng lẽ mà thiêng liêng về những người lính đã ngã xuống để giữ từng bãi đá, từng tấc biển của Tổ quốc.

Và lời thề giữ đảo năm ấy vẫn còn vang vọng giữa sóng biển. Nó nhắc nhở những người lính Trường Sa hôm nay rằng, thời gian có thể làm phai mờ nhiều dấu tích, nhưng lịch sử thì vẫn nguyên vẹn.

Nối tiếp truyền thống của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống ở Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm vững vàng tay súng nơi đầu sóng, giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đó cũng chính là cách những người lính hôm nay tiếp nối lời thề giữ biển của thế hệ cha anh - lời thề được viết nên bằng máu giữa trùng khơi năm ấy.