Văn hóa trở thành nguồn lực tăng trưởng
VHO - Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mục tiêu của phát triển mà ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực nội sinh trực tiếp tạo ra sản phẩm, việc làm, thu nhập, giá trị gia tăng, thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia.
Một chuyển động quan trọng đang diễn ra trong tư duy phát triển: Văn hóa không chỉ cần được đầu tư, bảo tồn như nền tảng tinh thần, mà phải tổ chức để chuyển hóa tiềm năng sáng tạo thành giá trị kinh tế và năng lực cạnh tranh.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành một trụ cột phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp khoảng 9% GDP. Nhà nước đồng thời bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách. Những mục tiêu ấy cho thấy một thay đổi căn bản: Từ tư duy “văn hóa cần nguồn lực để phát triển” sang “văn hóa chính là nguồn lực của phát triển”.
Giai đoạn 2024-2025 và 5 tháng đầu năm 2026, các ngành công nghiệp văn hóa ước đóng góp khoảng 4,8-5,2% GDP, tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8%/năm. Sáu lĩnh vực gồm điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa, quảng cáo và thủ công mỹ nghệ chiếm trên 70% tổng doanh thu công nghiệp văn hóa.
Năm 2025, doanh thu điện ảnh đạt gần 5.600 tỉ đồng; quy mô thị trường game nội địa khoảng 17.000 tỉ đồng; quảng cáo khoảng 2,78 tỉ USD; kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ khoảng 2,5 tỉ USD. Du lịch văn hóa ước đóng góp khoảng 20% tổng doanh thu toàn ngành Du lịch và làm tăng mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế thêm 20-30%. Nhưng từ đó đặt ra câu hỏi: Văn hóa thực sự đóng góp bao nhiêu cho tăng trưởng kinh tế?
Chưa đủ cơ sở xác định chính xác văn hóa đóng góp bao nhiêu vào GDP, GRDP và mức tăng trưởng hằng năm. Chúng ta đã nói nhiều về công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, kinh tế di sản, nhưng vẫn thiếu một hệ thống thống kê “nhìn thấy” đầy đủ giá trị kinh tế của văn hóa. Dữ liệu về giá trị tăng thêm, việc làm, thu nhập, đầu tư, xuất khẩu, bản quyền, tài sản trí tuệ, giao dịch số, chi tiêu cho sản phẩm và dịch vụ văn hóa phân tán; đóng góp trực tiếp, gián tiếp và tác động lan tỏa chưa được lượng hóa đầy đủ.
Một di sản không chỉ tạo ra doanh thu bán vé, mà còn kéo theo lưu trú, vận tải, ăn uống, mua sắm, biểu diễn, sản phẩm thủ công; tạo thương hiệu điểm đến, nâng sức hấp dẫn của đô thị và góp phần thu hút đầu tư. Nếu chỉ tính doanh thu trực tiếp tại điểm di sản, phần lớn giá trị kinh tế của văn hóa sẽ vẫn “vô hình”.
Vì vậy, cần chuyển từ đánh giá bằng số lượng hoạt động và nguồn lực đầu vào sang đánh giá bằng sản phẩm, kết quả, giá trị tạo ra và mức đóng góp thực tế. Huế phát huy hiệu quả hệ thống di sản vật thể, văn hóa phi vật thể, lễ hội và Festival để phát triển du lịch văn hóa, các dịch vụ đặc trưng.
Năm 2025, Huế đón hơn 6,3 triệu lượt khách, tổng doanh thu du lịch trên 13 nghìn tỉ đồng. Nhưng với văn hóa, di sản là lợi thế khác biệt, câu hỏi trong giai đoạn mới không chỉ là “chúng ta có bao nhiêu di sản”, mà cần tiến tới câu hỏi: “Mỗi tài nguyên văn hóa có thể tạo ra những chuỗi giá trị nào?”.
Di sản kiến trúc có thể kết nối với du lịch, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế và dữ liệu số. Ẩm thực gắn với du lịch, đào tạo, thương hiệu và sản phẩm hàng hóa. Áo dài kết nối với thời trang, thủ công, thiết kế và sự kiện. Festival và nghệ thuật biểu diễn thúc đẩy du lịch sự kiện, kinh tế đêm. Làng nghề kết nối với thiết kế sáng tạo, thương mại điện tử và xuất khẩu. Một tài nguyên văn hóa, nếu được tổ chức khai thác hợp lý, không chỉ tạo sản phẩm mà hình thành cả một hệ sinh thái giá trị.
Có thể lựa chọn địa phương, mô hình tiềm năng để thí điểm cơ chế đưa tài nguyên văn hóa trở thành nguồn lực trực tiếp cho tăng trưởng, như kinh tế di sản, kinh tế lễ hội, đô thị sáng tạo, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, kinh tế đêm, không gian sáng tạo và sản phẩm văn hóa số. Hà Nội, Huế, Hội An, Ninh Bình có thể nghiên cứu, đề xuất trở thành địa bàn thí điểm về kinh tế di sản gắn với công nghiệp văn hóa.
Muốn vậy, các địa phương cần đổi mới quản trị: Xây dựng hệ thống dữ liệu đủ khả năng trả lời một đồng đầu tư vào di sản tạo thêm bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế; một Festival làm tăng bao nhiêu ngày lưu trú, mức chi tiêu của du khách; một sản phẩm văn hóa tạo ra bao nhiêu việc làm; một kho dữ liệu di sản có thể hình thành bao nhiêu sản phẩm số, tài sản trí tuệ và giá trị bản quyền. Phát huy giá trị kinh tế của văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa bằng mọi giá, mà phải hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa hiệu quả kinh tế với giá trị văn hóa, xã hội, nhân văn; tăng trưởng phải tạo thêm nguồn lực để đầu tư trở lại cho văn hóa và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
Đó là bản chất của kinh tế văn hóa bền vững: Không tiêu dùng hết di sản để đổi lấy tăng trưởng, mà biến tăng trưởng thành nguồn lực để di sản được bảo tồn tốt hơn, cộng đồng được hưởng lợi nhiều hơn và sức sáng tạo của xã hội được giải phóng mạnh mẽ hơn.
Với các đô thị di sản, chuyển từ tiềm năng văn hóa thành nguồn lực, từ nguồn lực thành sản phẩm, từ sản phẩm thành chuỗi giá trị và từ chuỗi giá trị thành sức cạnh tranh của đô thị có thể trở thành một hướng đi quan trọng trong mô hình tăng trưởng mới. Khi ấy, văn hóa không đứng bên cạnh kinh tế. Văn hóa thực sự trở thành một động lực của tăng trưởng và phát triển bền vững.

RSS