Di sản ẩm thực:
Tài nguyên của công nghiệp văn hóa, tạo “sức mạnh mềm” quốc gia
VHO - Một món ăn, một câu chuyện bản địa hay một nhân vật trên màn ảnh có thể gợi mở mong muốn tìm hiểu vùng đất ấy. Để sự quan tâm trở thành trải nghiệm du lịch thực tế, cần sự phối hợp giữa địa phương, cộng đồng, người làm nội dung và doanh nghiệp du lịch.

Sáng 17.10, UBND tỉnh Gia Lai phối hợp với Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam (VCCA) tổ chức Hội thảo “Điện ảnh – Truyền hình – Short Video với ẩm thực trong việc thúc đẩy du lịch”.
Với thông điệp “Chuyển hóa di sản ẩm thực thành nội dung sáng tạo, sản phẩm du lịch và sức mạnh mềm quốc gia”, chương trình hướng tới món ăn, tri thức chế biến, ký ức gia đình và đời sống cộng đồng được nhìn nhận như nguồn tài nguyên của công nghiệp văn hóa, có thể trở thành chất liệu cho những câu chuyện giàu cảm xúc, giúp khán giả tìm hiểu và muốn khám phá con người, vùng đất Việt Nam.
Phát huy sức mạnh điện ảnh trong quảng bá văn hóa
Một bộ phim có thể đưa hình ảnh của một vùng đất đến với khán giả ở rất xa. Khi văn hóa được kể bằng những câu chuyện cuốn hút, màn ảnh mở ra cơ hội để khán giả hiểu, nhớ và mong muốn trực tiếp khám phá nơi ấy.
Từ góc độ quản lý nhà nước về điện ảnh, Cục trưởng Cục Điện ảnh (Bộ VHTTDL) Đặng Trần Cường chia sẻ, điện ảnh trước hết là nghệ thuật kể chuyện bằng hình ảnh. Nhưng sức mạnh của điện ảnh không dừng lại ở màn ảnh. Một bộ phim hay có thể đưa hình ảnh của một vùng đất, một cộng đồng, một phong tục, một món ăn đến với hàng triệu khán giả.
Thông qua câu chuyện, nhân vật, bối cảnh, âm nhạc, ngôn ngữ và đời sống văn hóa trong phim, khán giả có thể hình thành tình cảm với một nơi mà họ chưa từng đặt chân tới. Từ tình cảm ấy, rất tự nhiên sẽ xuất hiện mong muốn được đến tận nơi, được nhìn thấy cảnh quan ấy, được trải nghiệm không gian văn hóa ấy và được thưởng thức những món ăn đã xuất hiện trong bộ phim. Đó chính là điểm giao thoa rất rõ giữa điện ảnh, văn hóa, ẩm thực và du lịch.
Theo ông Cường, ẩm thực trong phim vì thế không nên dừng ở việc “đặt một món ăn vào khuôn hình”. Một bữa ăn có thể là nơi gia đình đoàn tụ; một món ăn có thể gợi nỗi nhớ quê; một phiên chợ có thể kể về trao đổi văn hóa; một vùng nguyên liệu có thể mở ra câu chuyện về đất, nước, lao động và tri thức bản địa. Khi món ăn trở thành một phần của số phận nhân vật, nó đi vào trí nhớ khán giả tự nhiên và bền vững hơn mọi lời giới thiệu trực tiếp.
Cục trưởng Cục Điện ảnh cũng dẫn chứng cho thấy món ăn có thể tạo “hiệu ứng thứ hai” bên cạnh doanh thu phòng vé. Đơn cử như phim điện ảnh Nhà gia tiên (2025) đưa bánh xèo vào câu chuyện gia đình và ký ức của nhân vật; khi phim vượt 200 tỉ đồng trong tuần chiếu thứ ba, truyền thông ghi nhận một “cơn sốt bánh xèo” đồng thời xuất hiện trong cộng đồng khán giả.

“Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở hình ảnh món ăn, mà ở câu chuyện nghề của người bà đã dùng việc đổ bánh xèo để nuôi chín người con, món ăn nhờ đó mang theo lao động, gia đình và ký ức”, Cục trưởng Cục Điện ảnh chia sẻ thêm.
Một món ăn xuất hiện trên màn ảnh có thể khiến khán giả nhớ đến cả một đất nước. Hương vị được gợi lên qua hình ảnh, câu chuyện và cảm xúc trở thành cầu nối để văn hóa đến gần hơn với công chúng.
Trong tham luận Quyền lực mềm qua ẩm thực trên màn ảnh: Bài học toàn cầu và cơ hội Việt Nam, ở góc nhìn về vai trò của điện ảnh, ông Đỗ Lệnh Hùng Tú – Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam chia sẻ, nước ta sở hữu nguồn tài nguyên ẩm thực phong phú, đa dạng theo vùng miền và bắt nguồn sâu sắc với lịch sử, cộng đồng, phong tục, ký ức và đời sống xã hội.
Đó chính là nguồn lực quan trọng để phát triển “quyền lực mềm”, cũng như là khả năng khiến người khác muốn tìm đến, yêu thích, đồng cảm hoặc tự nguyện làm theo mình, không phải bằng ép buộc hay sức mạnh vật chất, mà bằng sức hấp dẫn của văn hóa, giá trị hình ảnh và cách ứng xử.
Tuy nhiên, tiềm năng ấy chưa thực sự được khai thác đầy đủ bằng ngôn ngữ “nghe - nhìn”. Điện ảnh ngày nay không còn giới hạn theo nghĩa bó hẹp chỉ là phim chiếu rạp, mà chiến lược đưa ẩm thực lên màn ảnh hôm nay cần kết hợp cả ba tầng: Điện ảnh - Truyền hình/ OTT và Video ngắn (Short Video).

Theo Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam, điện ảnh tạo ra câu chuyện lớn, hình ảnh có chiều sâu và giá trị lâu dài. Truyền hình và các nền tảng OTT có khả năng đưa ẩm thực vào đời sống nhân vật với thời lượng dài hơn. Trong khi đó, video ngắn có khả năng tách một khoảnh khắc hấp dẫn thành nội dung lan truyền.
Như thế, phim tạo ra câu chuyện, truyền hình mở rộng câu chuyện và video ngắn làm câu chuyện lan truyền và du lịch biến câu chuyện thành trải nghiệm thực tế.
Đưa văn hóa ẩm thực đến gần hơn với công chúng
Để một món ăn hay một nét văn hóa địa phương sống được trong bộ phim, người viết cần tìm thấy câu chuyện và những con người phía sau. Trải nghiệm thực tế giúp chất liệu bản địa đi vào kịch bản tự nhiên, có chiều sâu và gần gũi với khán giả.
Là người trực tiếp xây dựng câu chuyện cho màn ảnh, biên kịch Trần Khánh Hoàng cho hay: Khi nói đến ẩm thực trên màn ảnh, người ta thường nghĩ đến hình ảnh trước một món ăn được quay đẹp, một căn bếp có khói tỏa, một mâm cơm đầy màu sắc, một đặc sản nhìn vào là nhận ra vùng miền. Những hình ảnh ấy chắc chắn có tác dụng. Khán giả nhìn thấy, thấy ngon, thấy lạ, rồi có thể muốn biết thêm về nơi món ăn ấy xuất hiện.
Cũng theo ông Trần Khánh Hoàng, với người viết kịch bản, câu hỏi thường khác một chút, đó là, một món ăn xuất hiện trong phim, khi nào nó chỉ là một món ăn và khi nào nó trở thành một phần của câu chuyện? Hai chuyện này không giống nhau. Một món ăn có thể được quay rất đẹp, nhưng sau cảnh đó khán giả không nhớ gì nữa. Ngược lại, có những món rất bình thường, không cầu kỳ, nhưng người xem nhớ rất lâu vì nó gắn với một nhân vật, một thời điểm cụ thể trong đời nhân vật ấy.

Phát biểu tại Hội thảo, bà Đỗ Thị Diệu Hạnh, Giám đốc Sở VHTTDL Gia Lai nhìn nhận, trong bối cảnh hiện nay, điện ảnh, truyền hình và các nền tảng video ngắn đang mở ra những phương thức mới để đưa văn hóa ẩm thực đến gần hơn với công chúng.
Một bộ phim có thể khắc họa vẻ đẹp của vùng đất và chiều sâu đời sống con người; một chương trình truyền hình có thể giới thiệu hành trình từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn; một video ngắn có thể ghi lại sức hấp dẫn của món ăn, kỹ thuật chế biến, câu chuyện của nghệ nhân, người nông dân, ngư dân và những trải nghiệm chân thực tại điểm đến.
Bà Đỗ Thị Diệu Hạnh khẳng định, đối với Gia Lai, “Điện ảnh - Truyền hình - Short video” là điều kiện thuận lợi để kể câu chuyện về một vùng đất đa dạng, giàu bản sắc, nơi đại ngàn chạm biển xanh, nơi sản vật của đất liền hòa quyện với nguồn lợi từ biển, nơi những giá trị văn hóa truyền thống có thể được tiếp nối bằng các hình thức sáng tạo hiện đại.
Điều quan trọng là nội dung truyền thông phải phản ánh chân thực đặc trưng của địa phương, có chiều sâu văn hóa, sức hấp dẫn và khả năng khơi gợi nhu cầu trải nghiệm.
“Chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng, quảng bá thành công không chỉ dừng lại ở lượt xem, lượt chia sẻ hay mức độ nhận diện trên các nền tảng số”, bà Hạnh nhấn mạnh và bày tỏ, giá trị cuối cùng phải được thể hiện bằng khả năng thu hút du khách, hình thành những hành trình trải nghiệm ẩm thực, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản và đặc sản địa phương, tạo thêm cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Quá trình đó cần gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo đảm chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và phát triển du lịch bền vững.

RSS