Nơi thờ 3 vị Tiến sĩ họ Trần - dấu ấn khoa bảng và giá trị văn hoá tâm linh
VHO - Làng Điền Trì, xã Trần Phú, TP. Hải Phòng nổi tiếng với truyền thống khoa bảng, có nhiều đóng góp cho dân tộc, trong đó phải kể đến dòng họ đỗ đạt nhất chính là họ Trần Điền Trì.
Vào thời hậu Lê, họ Trần Điền Trì có 3 đời liên tiếp gồm ông, cha và con thi đỗ Tiến sĩ: Trần Thọ, đỗ năm Canh Tuất 1670; Trần Cảnh, đỗ năm Mậu Tuất 1718 và Trần Tiến, đỗ năm Mậu Thìn 1748. Tiến sĩ Trần Cảnh làm quan đến chức Tể tướng.
Với những giá trị tiêu biểu, mộ và nhà thờ ba vị Tiến sĩ nói trên được Bộ trưởng Bộ VHTTDL xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 31/QĐ-BVHTTDL ngày 7.1.2020.
Theo thần phả và tư liệu còn lưu giữ được, họ Trần Điền Trì có nguồn gốc từ hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, là dòng dõi Chiêu Minh Vương - Thượng tướng, Thái sư Trần Quang Khải.

Ba vị Tiến sĩ dòng họ Trần Điền Trì được vinh danh bằng hình thức khắc tên, ghi danh trong bia Tiến sĩ tại "Văn Miếu - Quốc Tử Giám" và được triều đình phong kiến thời hậu Lê ban tặng nhiều sắc phong (hiện nay còn lưu giữ được 33 đạo sắc phong).
Tại nhà thờ còn lưu giữ nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật như biển hiệu Ân tứ vinh quy và Ân tứ Trí sĩ do vua Lê Hiển Tông ban vào năm 1748 khi cha con Trần Cảnh, Trần Tiến vinh quy bái tổ, 1 hòm sắc, 1 mâm đài, 6 đôi câu đối thời Nguyễn thế kỷ XIX - XX; 13 tấm bia, 6 khối đá... có niên đại thời hậu Lê và thời Nguyễn, đặc biệt là 33 đạo sắc phong và 1 cuốn Niên phả lục niên đại thế kỷ XVII, XVIII ghi chép một cách cụ thể và rõ ràng về nội dung lịch sử đương thời.
Dòng họ Trần Điền Trì đã cho xây dựng nhà thờ năm 1718 trên nền nhà của Tiến sĩ Trần Thọ, Trần Cảnh cùng với việc gìn giữ được các di vật, cổ vật nêu trên được xem là những nguồn sử liệu hết sức quan trọng để minh chứng về mối quan hệ của ba vị Tiến sĩ với quê hương, đất nước.
Nhà thờ họ Trần Điền Trì được làm bằng gỗ, kẻ truyền con chồng, kiểu chữ nhị, 3 gian hậu cung, 5 gian Tiền tế. Trong nhà thờ hiện còn lưu giữ nhiều cổ vật, hoành phi, câu đối, 13 bia đá, 33 đạo sắc phong thời Lê cùng nhiều đồ vật có giá trị khác.
Di tích được xây dựng tại thôn Trực Trì, trên một khu đất cao, mặt tiền quay về hướng Tây, gồm các hạng mục công trình: Nghi môn, Tiền tế, nhà bia, nhà thờ và công trình phụ.

Nghi môn được xây dựng kiểu hai tầng mái, các góc uốn cong, bao quanh là hệ thống tường bao xây bằng gạch với chức năng giới hạn không gian trang nghiêm cho nơi thờ tự.
Sau nghi môn là một khoảng sân rộng lát gạch vuông màu đỏ. Bên tả là nhà bia, nơi lưu giữ 13 tấm bia đá có niên đại vào thời hậu Lê và thời Nguyễn.
Tòa Tiền tế 5 gian được phục dựng phỏng theo kiến trúc thời Nguyễn (thế kỷ XIX), chất liệu chính bằng bê tông cốt thép, được xây cao hơn so với mặt sân khoảng 30cm. Trang trí nội thất của tòa nhà tập trung tại gian trung tâm. Tại đây, các đồ thờ tự như bát hương, lục bình, mâm bồng được bài trí ngay ngắn, gọn gàng trên nhang án.
Tiếp sau Tiền tế là Hậu cung 3 gian, nền cao 70cm. Không gian giữa Tiền tế và Hậu cung giới hạn bằng một khoảng sân. Khu vực này bài trí ba khám thờ kiểu án thư, chất liệu gỗ, thờ ba vị Tiến sĩ. Hai bên là khám thờ cụ Thượng tổ họ Trần và những người thân, nhân vật có công lao với dòng họ, với đất nước.
Phía trước và sau đầu hồi tòa Tiền tế và Hậu cung được bài trí 6 khuyển đá (chó đá) có niên đại vào thời Nguyễn, tạc nguyên khối, hai chân trước thẳng, hai chân sau quỳ xuống, mặt ngẩng lên, cổ đeo chuông, chia theo từng cặp trong thế chầu vào với ý nghĩa là thần gác cửa, trấn tà ma, mang lại điềm lành và sự may mắn.
Lại nói về Trần Thọ, sinh năm Kỷ Mão (năm 1639), là con cụ Trần Phúc. Năm 31 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa thi năm Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (năm 1670).
Theo tài liệu lịch sử, sự nghiệp của Tiến sĩ Trần Thọ trải qua những chức quan nhỏ ở các trấn như chức Cấp sự trung, chức Giám sát Ngự sử đạo Sơn Tây, chức Đốc đồng đạo Sơn Tây. Sau đó, ông được thăng lên chức Phó Đô Ngự sử, một chức quan ở Ngự Sử đài.
Ông là vị quan đầu triều thanh liêm, một trong số các nhà bang giao giỏi của triều Lê.
Năm Canh Thìn, niên hiệu Chính Hoà thứ 21 (1700), Tiến sĩ Trần Thọ qua đời ở tuổi 62, sau được tặng phong Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Phương Trì Hầu.
Trần Thọ có người con trai là Trần Cảnh đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1718. Ông làm quan chuyên về giáo dục, nhiều lần được cử chấm thi, rồi làm đến chức Tế Tửu Quốc Tử Giám. Sau đó Trần Cảnh lần lượt làm Thượng thư đến 4 bộ, 2 lần được cử làm Tham Tụng (tương đương Tể tướng).
Với những cống hiến của mình, Trần Cảnh được vua ban cho tước Diệu Quận Công, Hùng Quận Công, hàm Thái Bảo. Đây là phẩm hàm cao nhất của triều đình. Vua Lê cũng ban cho ông danh vị Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thượng Trụ quốc.

Trần Cảnh đi đến đâu cũng được dân quý trọng, nhà vua tin dùng, dù đã xin về hưu nhưng vua vẫn mời ra bàn việc nước.
Khi Trần Cảnh mất, vua thương tiếc tổ chức quốc tang, nghỉ chầu 3 ngày, ban cho tên thụy là Trung Nhã Trần tướng công.
Trần Cảnh có người con trai là Trần Tiến, đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1748, làm quan đến Phó Đô Ngự sử, tước Sách Huân bá, sau được thăng làm Lễ bộ Thượng thư.
Trần Tiến cũng viết một số sách như “Đăng khoa lục sưu giảng”, “Cát Xuyên tiệp bút”, “Cát Xuyên thi tập”, “Niên phả lục”, “Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi”.
Các con của Trần Tiến cũng hiển đạt, như Trần Quý làm Trợ giáo Thái tử, tức dạy cho Thái tử học, nên còn được gọi là Trần Trợ, ông cũng là tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Tục biên Công dư tiệp ký”.
Đến nay dòng họ Trần làng Điền Trì có hai nhà văn, nhà thơ nổi tiếng là anh em Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa. Đặc biệt, Trần Đăng Khoa được xem là thần đồng khi có những bài thơ nổi tiếng lúc mới chỉ 8 tuổi.
Làng Điền Trì thuộc tỉnh Hải Dương xưa (nay là TP. Hải Phòng) là trấn thứ nhất của kinh thành Thăng Long, vì nằm ở phía đông Kinh nên người xưa hay gọi đây là xứ Đông.
Trong lịch sử khoa bảng, tỉnh Hải Dương cũ đứng đầu về số người đỗ đại khoa, với 472 người đỗ Tiến sĩ, trong đó có 11 Trạng nguyên. Trong đó làng Điền Trì nổi tiếng với dòng họ đỗ đạt nhiều nhất là họ Trần.

RSS