Những “nút thắt” kìm hãm sự tự chủ của đơn vị nghệ thuật công lập
VHO - Đổi mới quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập, cơ chế tự chủ được xác định là một trong những trụ cột quan trọng nhằm thúc đẩy tính năng động, sáng tạo của các đơn vị.

Tuy nhiên, khi áp dụng cơ chế này vào lĩnh vực nghệ thuật, nhất là nghệ thuật truyền thống, thì những “độ vênh” giữa chính sách và thực tiễn vận hành đã bộc lộ ngày càng rõ rệt.
Hội thảo khoa học với chủ đề “Nghiên cứu cơ chế tự chủ của các đoàn nghệ thuật” do Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam vừa tổ chức cuối tuần qua đã phân tích những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai cơ chế tự chủ tại các đơn vị nghệ thuật công lập.
Theo ThS Nguyễn Thị Phương Lan (Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), cơ chế tự chủ không chỉ là một giải pháp kỹ thuật về tài chính, mà quan trọng hơn là sự chuyển đổi căn bản trong tư duy quản trị khu vực công.
“Tự chủ xác lập một triết lý mới, chuyển từ mô hình bao cấp, mệnh lệnh sang mô hình giao quyền, trách nhiệm, nơi hiệu quả, tính chủ động và trách nhiệm giải trình được đặt lên hàng đầu”, bà Lan phân tích.
Trong hơn hai thập kỷ qua, hành trình thể chế hóa cơ chế tự chủ tại Việt Nam đã đi qua nhiều cột mốc quan trọng. Chuỗi chính sách này phản ánh nỗ lực nhất quán của Nhà nước trong việc chuyển đổi từ mô hình “quản lý bao cấp” sang “quản trị kiến tạo”, từng bước xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, tăng quyền tự quyết cho các đơn vị sự nghiệp công lập.
Tuy nhiên, nghệ thuật biểu diễn, nhất là các loại hình truyền thống như Tuồng, Chèo, Cải lương, Nhã nhạc... lại mang những đặc thù mà các lĩnh vực dịch vụ công khác không có. Đây không đơn thuần là sản phẩm tiêu dùng văn hóa, mà là những di sản sống, kết tinh chiều sâu lịch sử, bản sắc và tâm hồn dân tộc.
Việc đặt các giá trị đó lên “bàn cân” thị trường vì thế luôn tiềm ẩn nguy cơ làm biến dạng giá trị cốt lõi nếu thiếu cơ chế bảo trợ phù hợp. Thực tế triển khai cho thấy, đa số các đơn vị nghệ thuật công lập hiện nay mới chỉ đạt mức tự chủ rất thấp. Theo số liệu của Bộ VHTTDL, gần 90% đơn vị nghệ thuật không có khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên; hơn 60% thậm chí không đạt nổi mức tự chủ 20%.
Ngay cả những đơn vị đầu ngành cũng không nằm ngoài vòng xoáy khó khăn. Nhà hát Tuồng Việt Nam hiện chỉ có thể bù đắp chưa đầy 20% chi phí hoạt động từ nguồn thu bán vé. Ở cấp địa phương, tình hình còn nan giải hơn khi các đoàn nghệ thuật vừa phải gánh áp lực doanh thu, vừa bị ràng buộc bởi các quy định chặt chẽ về quản lý tài sản công, khiến việc khai thác cơ sở vật chất để tạo nguồn thu gần như “đóng băng”.
Theo NSƯT Kiều Minh Hiếu, Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam, cơ chế tự chủ trong thực tế nhiều khi bị hiểu giản lược thành “tự lo tài chính”. “Nếu chỉ nhìn tự chủ như bài toán thu, chi, thì nghệ thuật truyền thống chắc chắn thua ngay từ đầu. Áp lực doanh thu có thể đẩy các đơn vị vào xu hướng thương mại hóa, làm mòn dần nền tảng nghề nghiệp và giá trị thẩm mỹ”, NSƯT Kiều Minh Hiếu thẳng thắn.
Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của công nghiệp giải trí và kỷ nguyên số, nghệ thuật truyền thống đang phải đối mặt với những bất lợi mang tính cấu trúc. Tệp khán giả hẹp, đòi hỏi trình độ thưởng thức cao; chi phí dàn dựng lớn, thời gian tập luyện dài; trong khi doanh thu từ vé lại rất thấp, tất cả tạo nên một nghịch lý khó hóa giải.
Hệ quả dễ thấy là nhiều đơn vị buộc phải cắt giảm quy mô sáng tạo, ưu tiên các chương trình “dễ xem, dễ bán”, thậm chí pha trộn, giản lược ngôn ngữ nghệ thuật truyền thống để chiều theo thị hiếu ngắn hạn. Nếu kéo dài, xu hướng này không chỉ làm suy yếu chất lượng nghệ thuật mà còn đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của di sản.
Đáng lo ngại hơn, áp lực tự chủ tài chính còn bị khuếch đại bởi xu hướng sáp nhập các đoàn nghệ thuật vào trung tâm văn hóa theo logic tinh gọn bộ máy. Việc “gom cụm” cơ học này khiến nghệ sĩ chuyên nghiệp phải kiêm nhiệm các hoạt động phong trào, làm mất đi tính chuyên sâu, yếu tố sống còn của nghệ thuật hàn lâm. Không ít nghệ sĩ trẻ vì thu nhập bấp bênh đã rời bỏ khu vực công, dẫn đến nguy cơ “đứt gãy” lực lượng kế cận.
Phân tích sâu hơn, ThS Nguyễn Thị Phương Lan cho biết, có ba “nút thắt” lớn đang kìm hãm tiến trình tự chủ của các đơn vị nghệ thuật công lập. Thứ nhất là khoảng trống kéo dài về cơ chế giá và định mức kinh tế - kỹ thuật. Trong nhiều năm, các nhà hát hoạt động mà không có bộ “thước đo” chuẩn để xác định chi phí thực của một tác phẩm. Dù Thông tư 10/2024/ TT-BVHTTDL đã bước đầu tháo gỡ vấn đề này, nhưng hệ lụy của giai đoạn thiếu chuẩn mực vẫn còn rất nặng nề.
Thứ hai là khủng hoảng nguồn nhân lực. Lực lượng nghệ sĩ nòng cốt đang già hóa nhanh chóng, trong khi nghệ sĩ trẻ không mặn mà gắn bó do thu nhập thấp và thiếu triển vọng nghề nghiệp. Sự mất cân đối giữa biên chế hành chính và lực lượng biểu diễn trực tiếp càng làm trầm trọng thêm bài toán nhân lực. Thứ ba là rào cản về hạ tầng và khung pháp lý quản lý tài sản công. Nhiều nhà hát nằm ở vị trí “đất vàng” nhưng không thể khai thác hiệu quả để tạo nguồn thu do quy trình liên doanh, liên kết phức tạp và tâm lý e ngại rủi ro pháp lý.
Từ thực tiễn trên, các chuyên gia cho rằng, vấn đề không nằm ở việc có hay không thực hiện tự chủ, mà là phải thiết kế cơ chế tự chủ như thế nào cho phù hợp với đặc thù nghệ thuật.

RSS