Nhận diện không gian văn hóa và hệ tri thức biển Việt Nam
VHO- Hôm qua 28.12, tại Hà Nội, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia tổ chức hội thảo khoa học Bảo tồn, phát huy giá trị các không gian văn hóa và hệ tri thức biển Việt Nam, với mục tiêu cần làm rõ: “Quá trình hình thành, phát triển, đặc trưng của các không gian văn hóa biển trên các vùng biển đảo Việt Nam; sự phân bố, thực trạng và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể (đặc biệt là hệ tri thức văn hóa biển) của các không gian văn hóa tiêu biểu; nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa biển đảo Việt Nam”.

Quang cảnh Hội thảo Ảnh: P.V
Là một quốc gia gắn liền với biển, với đường bờ biển dài 3.260 km, Việt Nam đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, đảo quốc và các vùng lãnh thổ gắn với biển trên toàn thế giới. Chỉ tính riêng dọc theo bờ biển, chúng ta đã có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng 12 huyện đảo. Theo Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Việt Nam có vùng lãnh hải khoảng hơn 1 triệu km2, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông. Vì vậy có thể nói, nước ta có một hệ sinh thái gắn liền với biển vô cùng rộng lớn, gắn liền với lịch sử chiếm lĩnh, xác định chủ quyền, dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Trong những thập niên gần đây, việc nghiên cứu về biển và hải đảo, văn hóa biển, hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa biển của giới khoa học trong và ngoài nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Với mục tiêu thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu về biển, làm rõ truyền thống, đặc trưng, giá trị văn hóa biển; tăng cường vai trò tham mưu, tư vấn với Đảng, Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa biển, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã xác định một số định hướng nghiên cứu cơ bản, trong đó có việc khảo cứu sự hình thành, hoạt động và vai trò của các không gian văn hóa biển Việt Nam, mối quan hệ và quá trình tương tác giữa biển với lục địa, tiềm năng, giá trị, đặc trưng của các không gian văn hóa biển trong so sánh với không gian biển châu Á. Thời gian qua, Hội đồng đã tổ chức một số đợt khảo sát thực tế tại một số địa phương gắn liền với biển như Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Bình…, một số thành viên Hội đồng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn, hội nghị hội thảo khoa học về biển đảo được tổ chức trong nước và quốc tế.
Định hướng nghiên cứu như trên của hội thảo cũng nhằm nhận diện giá trị các không gian văn hóa, hệ tri thức văn hóa biển Việt Nam, chuẩn bị những cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ công tác lập Quy hoạch không gian biển và Quy hoạch quốc gia. Hội thảo cũng là dịp để các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trình bày các thành tựu, các kết quả nghiên cứu mới về không gian văn hóa biển Việt Nam và hệ tri thức biển phong phú, được coi như mã di truyền văn hóa độc đáo của các cộng đồng dân cư biển. Hội thảo đã nhận được 18 tham luận của các thành viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và một số chuyên gia ngoài Hội đồng như GS.TS Trương Quốc Bình, GS.TS Nguyễn Chí Bền, TS Trần Đức Nguyên, ThS Lưu Ngọc Thành… Tại hội thảo, các nhà nghiên cứu, chuyên gia đã trình bày, thảo luận nhiều vấn đề phong phú đồng thời đề xuất nhiều nội dung quan trọng nhằm bảo tồn, phát huy giá trị không gian văn hóa đa dạng và hệ tri thức biển phong phú của các cộng đồng dân cư Việt Nam.
Du khách tham quan đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) Ảnh: TR.HUẤN
Nhóm các chuyên gia về khảo cổ học như PGS.TS Tống Trung Tín (Vài nhận xét mới về loại hình và niên đại gốm Việt Nam ở quần đảo Trường Sa), PGS.TS Bùi Chí Hoàng (Vùng cận biển Đông Nam Bộ trong thời Tiền sử và Sơ sử), PGS.TS Bùi Văn Liêm (Từ tiềm năng và giá trị đến những thách thức trong khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa biển Việt Nam), TS Phạm Quốc Quân (Từ huyện đảo Lý Sơn - nghĩ về di sản gắn với phát triển du lịch biển, đảo nước ta), TS Nguyễn Văn Đoàn (Đôi nét về hoạt động giao thương của hệ thống thương cảng cổ miền Trung Việt Nam)… đã đề cập đến nhiều vấn đề về khảo cổ học dưới nước, trong lòng biển, trên vùng cảng biển, hải đảo của đất nước; không chỉ đề cập đến các thành tựu về khoa học, bảo tàng mà còn nêu rõ những tồn tại, hạn chế đòi hỏi cần có sự quan tâm, đầu tư để khắc phục.
Nhóm các chuyên gia về di sản phi vật thể và tư liệu như TS Lê Thị Minh Lý (Bảo vệ và phát huy giá trị các không gian văn hóa và hệ tri thức biển đảo Việt Nam từ tiếp cận quản lý văn hóa), GS.TS Nguyễn Chí Bền (Không gian văn hóa biển đảo Việt Nam), GS.TS Từ Thị Loan (Hệ tri thức biển của cư dân vùng biển đảo Bắc Bộ), GS.TS Trương Quốc Bình (Bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa tại Phú Quốc - Một không gian văn hóa biển đặc trưng), PGS.TS Chu Văn Tuấn (Bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng dân gian ven biển khu vực Trung Bộ Việt Nam)… lại nhấn mạnh vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, không gian văn hóa và các di sản phi vật thể, các hệ tri thức biển của các cộng đồng dân cư khác nhau, điển hình là các cộng đồng dân cư ven biển và hải đảo như Phú Quốc, Lý Sơn, các đảo ven bờ và ngoài khơi ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.

Một góc đảo Cô Tô (Quảng Ninh) Ảnh: TR.HUẤN
Một số tham luận đề cập đến các vấn đề mang tính tổng thể như tham luận của PGS. TS Đặng Văn Bài (Bảo tồn di sản văn hóa trong chiến lược phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam); GS.TS Nguyễn Văn Kim (Bảo tồn, phát huy giá trị các không gian văn hóa và hệ tri thức biển Việt Nam), PGS.TS Đỗ Văn Trụ (Di sản văn hóa biển đảo Việt Nam - Bộ phận quan trọng hợp thành kho tàng di sản văn hóa Việt Nam); hay các vấn đề cụ thể, mang tính chuyên sâu như PGS.TS Đinh Quang Hải (Nhận thức và quan điểm của giới sử học Việt Nam hiện nay về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông), TS Phan Thanh Hải (Hoàng đế Minh Mạng với tầm nhìn chiến lược về biển đảo - dẫn liệu từ hình ảnh trên Cửu đỉnh), TS Trần Đức Nguyên và ThS Lưu Ngọc Thành (Di sản văn hóa biển tại tỉnh Thanh Hóa: Nhận diện giá trị và giải pháp bảo tồn)… đều là những đóng góp có giá trị, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về không gian văn hóa và hệ tri thức biển Việt Nam dưới góc độ di sản.
Phát biểu tổng kết hội thảo, GS.TSKH Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia nhấn mạnh: Hội thảo khoa học “Bảo tồn, phát huy giá trị các không gian văn hóa và hệ tri thức biển Việt Nam” là một hành động cụ thể, phù hợp nhằm triển khai tinh thần Nghị quyết 36-NQ/TW về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” với quan điểm chủ đạo là “Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng”.
Việt Nam đã và đang triển khai Chiến lược biển với tầm nhìn rộng lớn nhằm sớm trở thành quốc gia phát triển từ môi trường và các nguồn tài nguyên phong phú của đại dương. Trên phương diện văn hóa, cùng với việc nhận thức rõ những hạn chế mà Nghị quyết 36-NQ/TW đã chỉ ra, vấn đề gìn giữ giá trị, truyền thống và bản sắc văn hóa biển được đặt ra trong bối cảnh các cường quốc trên thế giới và nhiều quốc gia khu vực đang thực thi Chiến lược biển hết sức mạnh mẽ.
TS PHAN THANH HẢI

RSS