Khảo cổ học Đà Nẵng – Từ quá khứ đến nguồn lực phát triển:
Kỳ 1 – Nhận diện những lớp trầm tích nghìn năm
VHO - Từ dấu tích cư trú cách đây khoảng 5.600 năm ở Bàu Dũ đến những di sản Sa Huỳnh, Champa và không gian khảo cổ học hàng hải, Đà Nẵng hiện lên như một vùng đất có chiều sâu lịch sử đặc biệt.
Hơn 300 di tích, địa điểm và dấu tích khảo cổ được phát hiện trên địa bàn Đà Nẵng sau hơn một thế kỷ nghiên cứu không chỉ kể câu chuyện về quá khứ, mà còn mở ra cách nhìn mới về không gian văn hóa của thành phố hôm nay.
Từ Bàu Dũ nhìn về cội nguồn
Từ thời tiền sử đến các giai đoạn lịch sử, miền Trung là nơi nhiều cộng đồng cư dân gặp gỡ, giao lưu và tiếp biến văn hóa. Những dấu tích Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt cùng các tuyến giao thương trên Biển Đông phản ánh tiến trình ấy.
Đà Nẵng nằm giữa núi, sông, đồng bằng, cửa biển và hải đảo. Địa hình đa dạng cũng là môi trường lưu giữ những dấu tích cư trú, sản xuất, tín ngưỡng và giao thương qua nhiều thời kỳ.
Tại hội thảo khoa học “Khảo cổ học thành phố Đà Nẵng: Tiềm năng, thực trạng, định hướng quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa” diễn ra vào tháng 6.2026 (gọi tắt hội thảo Khảo cổ học Đà Nẵng), nhà nghiên cứu Hồ Xuân Tịnh, Hội Di sản văn hóa thành phố Đà Nẵng nhận định, Bàu Dũ là địa điểm có dấu tích cư trú cổ xưa nhất được ghi nhận ở vùng đất này, với niên đại khoảng 6.000 năm.

Những công cụ đá được ghè đẽo, vỏ nhuyễn thể, xương động vật, dấu tích bếp lửa và cả di cốt người cổ cho thấy Bàu Dũ không chỉ là nơi cư trú mà còn là không gian sinh tồn ổn định của cư dân ven biển.
Các dấu tích ấy cho thấy cư dân tiền sử biết lựa chọn nơi ở, khai thác nguồn lợi từ biển, cửa sông và đồng bằng ven biển. Mối quan hệ giữa con người và môi trường sống đã hình thành từ rất sớm.
Bàu Dũ vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một di chỉ: đây là tư liệu giúp tìm hiểu những cộng đồng cư dân đầu tiên và lịch sử hình thành không gian văn hóa của vùng đất.
Từ Sa Huỳnh đến Champa
Trên nền tảng những lớp cư trú sớm, các tham luận của GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội về không gian cư trú Tiền - Sơ sử; ThS. Lưu Văn Phú, Viện Khảo cổ học về di chỉ Bàu Dũ; cùng ThS. Nguyễn Thơ Đình và CN. Nguyễn Phúc Cần, Viện Khảo cổ học về giao thoa Đông Sơn - Sa Huỳnh tiếp tục làm rõ vai trò của Đà Nẵng như một trong những địa bàn cư trú quan trọng của cư dân tiền sử và sơ sử miền Trung.
Từ góc độ khảo cổ học không gian, GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung đã nghiên cứu không gian cư trú Tiền - Sơ sử (Tiền Sa Huỳnh - Sa Huỳnh) ở thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam (cũ) trong mối liên hệ với tiến trình cư trú miền Trung. Qua đó bước đầu nhận diện cấu trúc không gian cư trú với mối liên hệ giữa nơi ở, nơi sản xuất và khu vực táng thức trong một chỉnh thể văn hóa tương đối thống nhất.
Những di tích này phân bố trong mối liên hệ với địa hình, sông ngòi và hệ sinh thái, giúp nhận diện cách cư dân cổ lựa chọn nơi ở, tổ chức sản xuất và sử dụng tài nguyên.

Trong các cuộc điều tra, khảo sát và khai quật, hàng loạt địa điểm mang dấu ấn văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện dọc các triền sông, cửa biển và vùng ven biển. Những khu mộ chum, đồ gốm, đồ sắt, khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi thủy tinh… không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật chế tác mà còn cho thấy mối liên hệ rộng mở với mạng lưới giao lưu khu vực.
Sau Sa Huỳnh là sự phát triển của văn hóa Champa. Những cuộc khai quật tại Phong Lệ, Quá Giáng, Cấm Mít cùng nhiều địa điểm khác đã phát hiện dấu tích đền tháp, nền móng kiến trúc, tượng thờ, phù điêu, vật liệu xây dựng và nhiều hiện vật có giá trị.
Các nghiên cứu của TS. Đỗ Trường Giang, Phó viện trưởng Viện Khảo cổ học; TS. Cao Thu Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; TS. Hà Thị Sương, Bảo tàng Đà Nẵng cùng nhiều tác giả khác cho thấy Đà Nẵng không phải là vùng ngoại vi của vương quốc Champa mà là một bộ phận quan trọng của không gian Amaravati cổ.
Hệ thống đền tháp, dấu tích kiến trúc, điêu khắc và bia ký phản ánh sự phát triển liên tục của đời sống tín ngưỡng, chính trị, văn hóa của cư dân Champa qua nhiều thế kỷ.
Nhìn di sản trong một không gian liên kết
Không chỉ bổ sung hiện vật, các nghiên cứu còn đặt từng di tích trong mối liên hệ với cảnh quan và môi trường sống của cư dân cổ.
Trong tham luận về ứng dụng khảo cổ học cảnh quan vào quy hoạch và bảo vệ di tích, TS. Võ Thị Phương Thúy, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên đề xuất tiếp cận từ góc nhìn “khảo cổ học cảnh quan”, nghĩa là không chỉ nghiên cứu hiện vật hay kiến trúc mà còn xem xét toàn bộ môi trường sinh tồn của cư dân cổ: hệ thống sông ngòi, cửa biển, đồi núi, thảm thực vật và những điều kiện tự nhiên đã hình thành nên các cộng đồng cư trú. Chính sự tương tác giữa con người và cảnh quan mới tạo nên giá trị đầy đủ của di sản khảo cổ.
Ở góc nhìn này, Đà Nẵng hiện lên như một mạng lưới cư trú liên tục trải dài từ miền núi phía tây xuống đồng bằng, cửa sông, ven biển và hải đảo. Các lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Hàn, vùng ven biển Nam Ô, bán đảo Sơn Trà hay Cù Lao Chàm không còn là những địa danh riêng lẻ, mà là những mắt xích trong một cấu trúc lịch sử thống nhất, là những “hành lang văn hóa” kết nối các cộng đồng cư dân qua nhiều thế kỷ.

Cũng tại hội thảo Khảo cổ học Đà Nẵng, TS. Lê Thị Liên, Hội khảo cổ học Việt Nam đặt vấn đề mở rộng nghiên cứu và quản lý di sản khảo cổ ra không gian biển.
Nằm trên các tuyến hàng hải ở Biển Đông, vùng biển Đà Nẵng có tiềm năng lưu giữ tư liệu về giao thương, dịch chuyển cư dân và giao lưu văn hóa trong khu vực. Cách tiếp cận ấy mở rộng phạm vi nghiên cứu từ đất liền ra biển, đảo; đồng thời đặt ra yêu cầu quản lý di sản theo không gian liên kết thay vì từng điểm rời rạc.
Bàu Dũ, các mộ táng Sa Huỳnh, đền tháp Champa và dấu tích hàng hải khác nhau về niên đại, chức năng. Khi đặt trong quan hệ với sông, biển và tuyến giao thương, chúng cùng góp phần nhận diện chiều sâu lịch sử Đà Nẵng. Từ kết quả nghiên cứu, vấn đề tiếp theo là đưa những câu chuyện ấy đến gần hơn với công chúng.
(Còn tiếp)

RSS