Giữ hồn làng nghề xứ Thanh: Khi di sản trở thành sinh kế bền vững
VHO - Từ những khung cửi thổ cẩm nơi miền núi Pù Luông đến tiếng búa rền vang ở làng đúc đồng Trà Đông, từ vị mặn mòi của nước mắm vùng biển đến hương thơm của bánh gai Tứ Trụ, các làng nghề truyền thống ở Thanh Hóa đang bước vào một hành trình mới.

Không chỉ gìn giữ ký ức văn hóa, những "di sản sống" ấy còn trở thành động lực phát triển kinh tế nông thôn, tạo việc làm và mở ra hướng đi bền vững gắn với du lịch, OCOP và chuyển đổi số.
Từ "giữ nghề" đến "sống được bằng nghề"
Thanh Hóa từ lâu được biết đến là vùng đất hội tụ nhiều nghề thủ công truyền thống nổi tiếng.
Trên dải đất trải dài từ miền núi, trung du đến đồng bằng và ven biển, mỗi làng nghề đều mang trong mình một câu chuyện riêng, lưu giữ dấu ấn văn hóa của nhiều thế hệ.
Đó là làng chiếu cói Nga Sơn với những sản phẩm từng có mặt ở nhiều thị trường trong và ngoài nước; làng đúc đồng Trà Đông (Thiệu Trung), nơi gìn giữ kỹ nghệ đúc đồng hàng trăm năm; làng nước mắm Do Xuyên, bánh gai Tứ Trụ, bánh lá Xuân Lập, mây tre đan Hoằng Thịnh, hương Đông Khê, đá mỹ nghệ Biện Thượng, nón lá Trường Văn, miến gạo Thăng Bình hay những tấm thổ cẩm rực rỡ sắc màu ở Pù Luông, Nam Xuân...
Hiện toàn tỉnh có 31 nghề truyền thống, 31 làng nghề và 61 làng nghề truyền thống phân bố tại 46 xã.
Không chỉ góp phần bảo tồn giá trị văn hóa, các làng nghề còn trở thành "đòn bẩy" phát triển kinh tế nông thôn.
Thống kê cho thấy, các làng nghề hiện có sự tham gia của 77 doanh nghiệp, 56 hợp tác xã, một tổ hợp tác cùng hơn 12.700 hộ sản xuất, kinh doanh.
Tổng doanh thu đạt hơn 2.217 tỉ đồng mỗi năm, tạo việc làm cho trên 26.500 lao động với thu nhập bình quân từ 5 - 12 triệu đồng/người/tháng.
Những con số ấy cho thấy làng nghề không còn đơn thuần là nơi lưu giữ ký ức, mà đã và đang trở thành sinh kế ổn định của hàng chục nghìn người dân.
Tại thôn Lặn Ngoài (xã Pù Luông), câu chuyện của chị Hà Thị Dung là minh chứng rõ nét cho sức sống của nghề truyền thống.
Năm 2013, khi nghề dệt thổ cẩm đứng trước nguy cơ mai một, chị mạnh dạn đầu tư khung dệt, máy khâu, trực tiếp hướng dẫn phụ nữ trong bản dệt hoa văn, hoàn thiện sản phẩm.
Bốn năm sau, chị tiếp tục vay vốn mở rộng sản xuất, đầu tư thêm máy móc, khung cửi.
Đến nay, cơ sở của gia đình chị tạo việc làm thường xuyên cho 4 lao động với thu nhập từ 6 - 8 triệu đồng/tháng và gần 40 lao động thời vụ.
"Điều khiến những người làm nghề như tôi vui nhất là nghề dệt thổ cẩm ngày càng được nhiều người biết đến. Không chỉ phụ nữ lớn tuổi mà nhiều chị em trẻ cũng bắt đầu quan tâm học nghề. Khi sản phẩm bán được, có thêm thu nhập, mọi người càng có động lực gắn bó với nghề hơn. Tôi mong sẽ có thêm nhiều sản phẩm mới để quảng bá văn hóa dân tộc, đồng thời thu hút khách du lịch đến với Pù Luông", chị Dung chia sẻ.
Sự hồi sinh của nghề dệt nơi đây không chỉ bắt nguồn từ tâm huyết của những người giữ nghề mà còn được tiếp sức bởi sự phát triển mạnh mẽ của du lịch cộng đồng.

Ngày càng nhiều du khách tìm đến Pù Luông để tận mắt chứng kiến quy trình dệt vải thủ công, lắng nghe câu chuyện phía sau từng hoa văn và mang về những chiếc khăn, túi xách thổ cẩm như một món quà lưu niệm.
Chính dòng khách ấy đã tạo thêm đầu ra cho sản phẩm, giúp nghề truyền thống có cơ hội phát triển bền vững hơn.
Nếu ở miền núi, nghề dệt thổ cẩm được tiếp sức nhờ du lịch cộng đồng thì ở vùng đồng bằng xứ Thanh, làng nghề đúc đồng Trà Đông (xã Thiệu Trung) vẫn bền bỉ giữ lửa bằng tâm huyết của nhiều thế hệ nghệ nhân.
Nghệ nhân Ưu tú Đặng Ích Hoàn, người có nhiều đóng góp trong việc phục dựng và phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống Trà Đông, sinh ra trong dòng họ có hơn 20 đời làm nghề.
Nhiều năm qua, ông cùng gia đình kiên trì gìn giữ những kỹ thuật đúc đồng thủ công tinh xảo, đồng thời đổi mới mẫu mã để sản phẩm vừa mang giá trị truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Theo Nghệ nhân Ưu tú Đặng Ích Hoàn, điều quý giá nhất mà nghề đúc đồng mang lại không chỉ là những sản phẩm bằng đồng, mà còn là việc lưu giữ tinh hoa của cha ông.
"Nếu người trẻ còn yêu nghề, còn muốn học nghề thì làng nghề sẽ còn sức sống. Chúng tôi mong có thêm nhiều chính sách hỗ trợ để nghề truyền thống gắn kết chặt chẽ hơn với du lịch, giúp nhiều người biết đến giá trị của đúc đồng Trà Đông và tạo thêm sinh kế cho người dân", ông Hoàn chia sẻ.
Từ khung cửi thổ cẩm ở Pù Luông đến lò đúc đồng Trà Đông, điểm chung của những làng nghề xứ Thanh hôm nay là nỗ lực gìn giữ giá trị truyền thống trong nhịp sống hiện đại.
Không riêng Pù Luông hay Trà Đông, nhiều làng nghề ở Thanh Hóa cũng đang từng bước chuyển mình theo hướng gắn sản xuất với trải nghiệm du lịch.
Du khách có thể tham quan quy trình làm nước mắm truyền thống, tìm hiểu nghề đúc đồng, học đan lát, dệt thổ cẩm hay thưởng thức đặc sản ngay tại làng nghề.
Mỗi trải nghiệm đều góp phần kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng giá trị sản phẩm và tạo thêm nguồn thu cho người dân địa phương.
Song hành với đó, nhiều sản phẩm làng nghề đã từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường.
Toàn tỉnh hiện có 7 sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể; hơn 50 sản phẩm OCOP của các làng nghề đạt từ 3 đến 4 sao.
Đặc biệt, mắm tôm và nước mắm Lê Gia đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 5 sao, mở ra cơ hội tiếp cận những thị trường rộng lớn hơn.
Để làng nghề không chỉ tồn tại mà còn phát triển
Theo ông Lê Bá Lương, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Thanh Hóa, bảo tồn và phát triển nghề truyền thống không đơn thuần là giữ lại một phương thức sản xuất, mà còn là gìn giữ những giá trị văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Mỗi sản phẩm thủ công đều phản ánh tri thức dân gian, tập quán sinh hoạt, kỹ năng lao động và bản sắc riêng của từng cộng đồng. Đó là những "di sản sống", đồng thời cũng là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm.
Ở góc độ kinh tế, phát triển làng nghề góp phần đa dạng hóa sinh kế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, biến đổi khí hậu tác động mạnh đến sản xuất, đây được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao thu nhập và giữ chân lao động ở nông thôn.
Theo ông Lương, nhiều nghề truyền thống sử dụng nguyên liệu tự nhiên, quy trình sản xuất thủ công, tiêu tốn ít năng lượng nên rất phù hợp với xu hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và tiêu dùng bền vững.
Nếu được đầu tư công nghệ sạch, cải tiến quy trình sản xuất, các làng nghề sẽ có thêm lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Thực tế những năm gần đây, Thanh Hóa đã dành nhiều nguồn lực đầu tư cho các làng nghề.
Từ năm 2023 đến nay, khoảng 150 tỉ đồng đã được bố trí để xây dựng đường giao thông, công trình phụ trợ và hệ thống xử lý nước thải cho 10 làng nghề; đồng thời quy hoạch các cụm công nghiệp làng nghề nhằm từng bước di dời cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư, giảm ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, để các làng nghề thực sự phát triển bền vững, vẫn còn nhiều việc phải làm.
Theo định hướng giai đoạn 2026 - 2030, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định mới về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững, Thanh Hóa sẽ tập trung triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp.
Trước hết là rà soát, phân loại các nghề truyền thống; xây dựng kế hoạch bảo tồn những nghề có nguy cơ mai một, thất truyền.
Song song với đó là hỗ trợ phát triển các làng nghề có tiềm năng về giá trị kinh tế và xuất khẩu; đầu tư hạ tầng đồng bộ, xử lý ô nhiễm môi trường và phát triển các cụm công nghiệp làng nghề.
Một trọng tâm khác là đào tạo nguồn nhân lực kế cận. Nghệ nhân, thợ giỏi sẽ được hỗ trợ nâng cao kỹ năng truyền nghề, thiết kế mẫu mã, nắm bắt xu hướng thị trường; thế hệ trẻ được khuyến khích tham gia học nghề để bảo đảm sự tiếp nối.
Cùng với đó, chuyển đổi số sẽ được đẩy mạnh thông qua xây dựng website, bán hàng trực tuyến, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và ứng dụng công nghệ vào sản xuất.
Một hướng đi giàu tiềm năng khác là xây dựng chuỗi liên kết giá trị từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ; phát triển các mô hình làng nghề gắn với du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm và chương trình OCOP.
Giữ lửa cho làng nghề vì thế không chỉ là giữ một nghề cũ, mà còn là giữ bản sắc của quê hương, tạo sinh kế cho người dân và mở ra một tương lai phát triển bền vững cho nông thôn xứ Thanh.

RSS