Ai hưởng lợi từ giá trị di sản?

Bài, ảnh: KHÁNH CHI

VHO - Bộ VHTTDL đang hoàn thiện Đề án “Định giá kinh tế di sản - TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới”, dự kiến trình Chính phủ phê duyệt trong quý IV.2026. Từ Hội An, Mỹ Sơn đến Huế, Tràng An, yêu cầu đặt ra là lượng hóa đúng lợi ích, chi phí để nguồn lực trở lại nuôi dưỡng di sản.

Từ thực tiễn hai di sản Hội An, Mỹ Sơn, bà Nguyễn Thị Anh Thi, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, dẫn một đối chiếu đáng chú ý: Từ năm 2024 đến hết nửa đầu năm 2026, doanh thu bán vé đô thị cổ Hội An đạt trên 500 tỉ đồng; doanh thu bán vé và dịch vụ tại Khu đền tháp Mỹ Sơn gần 200 tỉ đồng. Hai khoản thu cho thấy sức hút kinh tế trực tiếp của di sản.

Ai hưởng lợi từ giá trị di sản? - ảnh 1
Ảnh minh hoạ

Theo bà Thi, Đề án TEV cần giúp địa phương trả lời: Di sản tạo ra những giá trị gì, lan tỏa tới đâu và cần ưu tiên nguồn lực bảo tồn thế nào. Một ngôi nhà cổ Hội An lưu giữ nếp sống qua nhiều thế hệ; nghề thủ công nuôi dưỡng kỹ năng và ký ức cộng đồng. Với Mỹ Sơn, ngoài doanh thu tham quan còn có giá trị khảo cổ, nghiên cứu, giáo dục. Những đóng góp ấy không thể chỉ đọc từ thống kê vé.

TEV, hay tổng giá trị kinh tế, nhận diện cả lợi ích giao dịch và giá trị phi thị trường, kể cả giá trị gìn giữ cho các thế hệ tương lai. Đây không phải là phép tính “định giá” để thương mại hóa di sản, càng không phải khoản ngân sách sẵn có để phân chia. Nếu phương pháp đáng tin cậy, kết quả lượng hóa có thể bổ sung căn cứ đầu tư, thiết kế chính sách tài chính bảo tồn và chia sẻ lợi ích cộng đồng.

Tại hội thảo khoa học về đô thị thương cảng diễn ra tại Hội An ngày 22.10.2026, tham luận “Cái nhìn từ ‘kinh tế di sản’ đối với bảo tồn, sáng tạo và phát triển di sản văn hóa truyền thống xứ Quảng trong bối cảnh mới của Đà Nẵng hiện nay: Nghiên cứu trường hợp di sản Đô thị cổ Hội An” của PGS.TS. Dương Văn Huy và nhóm tác giả cho rằng, cần tiếp cận di sản vừa như tài sản văn hóa cần gìn giữ, vừa như nguồn lực có thể nuôi dưỡng phát triển.

Nhóm tác giả đặt những giá trị nội tại, việc truyền thừa, đổi mới sáng tạo, phát triển du lịch có trách nhiệm và vai trò cộng đồng trong một quan hệ hữu cơ. Góc nhìn ấy gặp TEV ở một điểm: Muốn phân bổ nguồn lực hợp lý, cần nhận diện đầy đủ lợi ích và chi phí phân tán. Hộ gia đình bảo dưỡng nhà cổ, nghệ nhân truyền nghề hay cộng đồng giữ cảnh quan góp phần duy trì sức hấp dẫn di sản, nhưng những đóng góp ấy khó xuất hiện trong thống kê bán vé. Nghiên cứu phải nhận diện điều đó, không mặc định người dân đã hưởng lợi tương xứng khi du lịch tăng trưởng.

Khi nhìn di sản qua nhiều tầng giá trị, câu hỏi “ai hưởng lợi?” cần được đặt cùng câu hỏi “ai đang chịu chi phí?”. Lợi ích có thể đến với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động, cơ sở dịch vụ, hoạt động giáo dục và cả những người mong di sản còn nguyên vẹn. Chi phí lại xuất hiện ở công tác tu bổ, giữ không gian cư trú, xử lý môi trường, quản lý dòng khách, ứng phó thiên tai hay truyền nghề. Chúng không phát sinh cùng một nơi và không thể đo bằng cùng một phép tính.

Bài học từ các địa phương không nằm ở mô hình nào thu được nhiều tiền hơn, mà ở cách kết nối bảo tồn với lợi ích lâu dài. Hội An cần tính đến cư trú, làng nghề và vùng phụ cận; Mỹ Sơn chú trọng khảo cổ, nghiên cứu, giáo dục, cảnh quan. Huế và Tràng An gợi mở kinh nghiệm về thể chế và sinh kế cộng đồng.

Với Hội An, Mỹ Sơn, Huế và Tràng An, thước đo cuối cùng không chỉ là giá trị kinh tế được ước tính cao đến đâu, mà là kết quả ấy có giúp quản lý tốt hơn, bảo vệ những giá trị không thể thay thế và để người góp công gìn giữ di sản tham gia, thụ hưởng thực chất hơn hay không.