Xây dựng thương hiệu quốc gia cho các ngành công nghiệp văn hóa:

Đâu là tiêu chí quan trọng bậc nhất?

ĐÌNH TOÁN

VHO - Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa (CNVH) đang trở thành động lực tăng trưởng hai con số, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho các ngành này là yêu cầu cần thiết. Đây là giải pháp góp phần chuyển hóa giá trị văn hóa thành lợi thế cạnh tranh, tạo dấu ấn riêng cho sản phẩm, dịch vụ sáng tạo của Việt Nam và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.

Bộ VHTTDL đặt mục tiêu đến năm 2030, phát triển từ 5-10 thương hiệu quốc gia về CNVH trong các lĩnh vực điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa... Các thương hiệu này sẽ thể hiện được bản sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và phát triển trên thị trường quốc tế.

Đâu là tiêu chí quan trọng bậc nhất?  - ảnh 1
Làng cổ Đường Lâm đã và đang gắn với phát triển du lịch văn hóa. Ảnh: MINH ANH

Xác định rõ nội hàm thương hiệu quốc gia

Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng CNVH Việt Nam vẫn chưa tạo dựng được nhiều thương hiệu và sản phẩm có tầm ảnh hưởng rộng rãi trên thị trường quốc tế.

Thời gian gần đây, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho các ngành CNVH Việt Nam đang từng bước được quan tâm, gắn với định hướng phát triển CNVH và mở rộng giao lưu quốc tế. Tuy nhiên, quá trình này đặt ra nhiều vấn đề cần làm rõ về nội hàm, giá trị cốt lõi và những đặc trưng tạo nên sức nhận diện của từng ngành.

Cục trưởng Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả (Bộ VHTTDL) Trần Hoàng nhấn mạnh, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm CNVH không chỉ nhằm tạo dựng các thương hiệu đơn lẻ mà hướng tới hình thành những thương hiệu mang tính dẫn dắt, có sức lan tỏa mạnh mẽ và đủ khả năng vươn tầm quốc tế.

“Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hiện nay là cần xác định cách đi phù hợp, lựa chọn những sản phẩm có tiềm năng, bản sắc riêng và đủ khả năng phát triển thành thương hiệu quốc tế. Nhà nước sẽ đóng vai trò dẫn dắt trong hoạt động xúc tiến, hỗ trợ xây dựng chính sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hiệp hội và các đơn vị sản xuất đồng hành phát triển thương hiệu sản phẩm CNVH Việt Nam”, Cục trưởng Trần Hoàng cho biết.

Về vấn đề nội hàm, ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Le Group of Companies, cho rằng một thương hiệu, sản phẩm hoặc dịch vụ chỉ có thể trở thành thương hiệu quốc gia khi đủ sức đại diện cho Việt Nam, góp phần định hình và nâng cao giá trị văn hóa của dân tộc trên thị trường quốc tế.

Thương hiệu quốc gia không đơn thuần là việc trong nước tự công nhận hay gọi tên. Tiêu chí quan trọng là sản phẩm đó phải khiến thế giới muốn sở hữu, muốn trải nghiệm và công nhận giá trị.

Ông Lê Quốc Vinh cho biết thời gian qua, Việt Nam đã có một số sản phẩm CNVH nổi bật ở mảng game, chương trình giải trí. “Tuy nhiên, đây có thể là thành công về mặt thương mại. Nhưng nếu vẫn sử dụng IP (sở hữu trí tuệ) mua bản quyền từ nước ngoài, chúng ta vẫn chưa thể xem là thương hiệu quốc gia. Chỉ khi nào bán được IP do mình sáng tạo cho các đối tác nước ngoài, chúng ta mới có thể coi đó là thương hiệu quốc gia”, ông Lê Quốc Vinh nhận định.

Vấn đề quan trọng hiện nay là cần xác định cách đi phù hợp, lựa chọn những sản phẩm có tiềm năng, bản sắc riêng và đủ khả năng phát triển thành thương hiệu quốc tế. Nhà nước sẽ đóng vai trò dẫn dắt trong hoạt động xúc tiến, hỗ trợ xây dựng chính sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hiệp hội và các đơn vị sản xuất đồng hành phát triển thương hiệu sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Ông TRẦN HOÀNG, Cục trưởng Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả

Phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt mục tiêu hình thành các thương hiệu quốc gia về CNVH, xây dựng các liên hoan nghệ thuật và lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế, thành lập thêm các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Định hướng này đáp ứng yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hiện nay, khi sức mạnh mềm văn hóa ngày càng có vai trò trong việc nâng cao sức hút của Việt Nam đối với khách du lịch, nhà đầu tư, hoạt động thương mại và các đối tác quốc tế. Đồng thời, đây cũng là nguồn lực giúp đất nước tăng cường khả năng thích ứng, bảo vệ lợi ích quốc gia trước sự cạnh tranh ngày càng phức tạp trên thế giới về giá trị, hình ảnh và tầm ảnh hưởng.

Khi được tổ chức và khai thác trong một chuỗi giá trị thống nhất, thương hiệu quốc gia của các ngành CNVH vừa góp phần khẳng định bản sắc dân tộc, mở rộng sức lan tỏa, vừa tạo thêm giá trị kinh tế, cơ hội việc làm và ảnh hưởng quốc tế lâu dài.

Ông Nguyễn Lâm Thanh (đại diện TikTok Việt Nam) cho rằng, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho các ngành CNVH cần được triển khai đồng thời theo chiều sâu và diện rộng.

Ở chiều sâu, cần lựa chọn một số lĩnh vực cụ thể trong các ngành CNVH để tập trung xây dựng thương hiệu, gắn với địa phương hoặc điểm đến có định hướng và cam kết phát triển lâu dài. Mô hình phường Cửa Nam (Hà Nội) hướng tới trở thành trung tâm sáng tạo, CNVH giữa lòng Thủ đô là một ví dụ.

Ở phạm vi rộng hơn, việc xây dựng cần được thiết kế theo hướng phổ quát, tạo cơ hội để cả doanh nghiệp nhỏ và các nhà sáng tạo tham gia. Những vướng mắc về chính sách cần sớm được cơ quan quản lý tháo gỡ kịp thời.

“Trong đó, các thủ tục, chính sách liên quan đến CNVH, sáng tạo cần được đơn giản hóa hơn nữa, có tính khuyến khích hơn. Càng không nên để những sản phẩm sáng tạo của các cá nhân người Việt Nam như game hay phim lại chọn phát hành ở nước ngoài chỉ vì thủ tục dễ dàng hơn”, ông Nguyễn Lâm Thanh cho hay.

Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, ThS. Trần Đăng Khoa (Bảo tàng Vĩnh Long) chỉ rõ, bài học nổi bật từ Hàn Quốc là Chính phủ không xem văn hóa đơn thuần như một lĩnh vực giải trí hay tiêu dùng mà coi đây là một cấu phần của chiến lược thương hiệu quốc gia, thường được nhắc đến với khái niệm “Korean Wave” hay “K-brand”.

Đáng chú ý, ngân sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của Hàn Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, bao gồm cả công nghệ văn hóa, đã đạt khoảng 5% GDP, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Mức đầu tư này tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp nội dung như âm nhạc, điện ảnh, game và truyền thông số...

Từ kinh nghiệm đó, ThS. Trần Đăng Khoa khẳng định, một hàm ý chính sách quan trọng đối với Việt Nam là cần chuyển đổi tư duy từ mô hình phát triển văn hóa mang tính “phục vụ” sang mô hình “khởi nghiệp văn hóa”. Trong đó, các doanh nghiệp sáng tạo và startup văn hóa được xem là chủ thể trung tâm của hệ sinh thái.

Việc xây dựng các quỹ đầu tư mang tính chiến lược để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp sáng tạo có thể trở thành một công cụ quan trọng.