Liên văn bản trong thơ Nguyễn Tiến Thanh
VHO - Thơ của Nguyễn Tiến Thanh là cuộc đối thoại với nhiều lớp văn hóa, văn học và âm nhạc Đông – Tây. Từ điển tích Kinh Kha, Pushkin, Maiacovsky đến ca dao, cổ tích Việt Nam hay giai điệu The Beatles, các liên văn bản xuất hiện tự nhiên trong thơ ông, tạo nên thế giới thi ca giàu suy tưởng, ký ức và chiều sâu văn hóa.

Liên văn bản là thuật ngữ do nhà lý luận Julia Kristeva đề ra vào năm 1967. Thuật ngữ này được đưa ra xuất phát từ việc Kristeva “phát hiện” và giới thiệu M.Bakhtin ở châu Âu, khi nhà nghiên cứu nhận ra những quan niệm về tính đối thoại và tính liên chủ thể của Bakhtin thực chất chính là sự “nhắc nhở về sự tồn tại của văn bản này trong mối quan hệ với các văn bản khác”[1].
Nhà lý luận nhấn mạnh tính chất tự thân của văn bản, không lệ thuộc hoạt động ý chí của cá thể: “Chúng ta gọi Liên văn bản (tác giả nhấn mạnh) cái liên hành vi mang tính văn bản này, xảy ra bên trong mỗi văn bản riêng biệt. Đối với chủ thể nhận thức thì liên văn bản – là khái niệm sẽ trở thành dấu hiệu của cách thức mà văn bản dùng để “đọc” câu chuyện (histoire) và hòa hợp với nó”[2].
Đồng tình và làm rõ hơn quan điểm của Kristeva, nhà nghiên cứu văn học Roland Barthes đưa ra khái niệm về “cái chết của tác giả”, và sau này còn mở rộng ra những khái niệm “cái chết” của văn bản của cá nhân (vì bị hòa tan vào các đoạn trích rõ ràng hoặc không rõ ràng), “cái chết” của độc giả (mà ý thức “không tránh khỏi” mang tính “chắp vá trích đoạn” bất ổn và bất định tới mức không thể tìm ra nguồn gốc của những trích đoạn đã tạo nên ý thức anh ta.
Cụ thể hơn Roland Barthes đã cung cấp cho khái niệm liên văn bản một định thức mang tính quy phạm văn hóa: “Mỗi văn bản là một liên văn bản; mỗi văn bản khác có mặt trong nó ở các cấp độ khác nhau dưới những hình thái ít nhiều nhận thấy được: những văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại xung quanh. Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ.
Những đoạn của các mã văn hóa, các định thức, các cấu trúc nhịp điệu, những mảng vụn biệt ngữ xã hội… - tất cả đều bị văn bản ngốn nuốt và đều bị hòa trộn trong văn bản, bởi vì trước văn bản và xung quanh nó bao giờ cũng tồn tại ngôn ngữ. Với tư cách là điều kiện cần thiết ban đầu cho mọi văn bản, tính liên văn bản không thể bị lược quy vào vấn đề về nguồn gốc hay ảnh hưởng; nó là trường quy tụ những định thức nặc danh, khó xác định nguồn gốc, những trích dẫn vô thức hoặc máy móc, được đưa ra không có ngoặc kép”[3].
Như vậy, theo các nhà lý thuyết, bất kỳ một văn bản nào cũng có giá trị tự thân của nó, không phụ thuộc vào tác giả, người đọc bởi bản thân văn bản đã chất chứa trong nó những giá trị văn hóa không thể chối cãi. Những giá trị văn hóa ấy có thể làm nền tảng cho tác phẩm, cũng có thể là phương tiện giúp nhà văn truyền tải những ám dụ sâu xa theo đúng đặc trưng “ý tại ngôn ngoại” của ngôn ngữ văn chương.
Thực tế, khi nghiên cứu liên văn bản, có hai xu hướng minh giải nội hàm khái niệm phổ biến. “Thứ nhất coi liên văn bản như một thủ pháp văn học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn); cách hiểu như thế đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có trước và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó. Thứ hai, liên văn bản được hiểu là thuộc tính bản thể của mỗi văn bản”[4].
Như vậy, khi nghiên cứu bất kỳ một đối tượng nào, có thể nhìn đối tượng đó như một bản thể độc lập mà tự nó đã mang trong mình bản chất liên văn bản ở nhiều góc độ khác nhau.
Nguyễn Tiến Thanh sinh năm 1968, tốt nghiệp Khoa Văn - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Từng được biết đến là một gương mặt nổi bật của phong trào thơ sinh viên Hà Nội những năm 80 của thế kỷ XX, đến nay dù bận công tác nghiệp vụ báo chí và quản lý, Nguyễn Tiến Thanh vẫn sáng tác. Gần đây, nhà thơ cho ra mắt ba tập thơ: Chiều không tên như vết mực giữa đời (2021), Loạn bút hành (2021), Viễn ca (2024). Các tập thơ này là những tâm sự của nhà thơ từ thời còn trên ghế nhà trường đại học cho đến khi đã trưởng thành và trải qua nhiều biến cố trong cuộc đời.
Bởi vậy yếu tố đầu tiên có thể thấy trong thơ của Nguyễn Tiến Thanh đó là xúc cảm chân thành được gửi gắm qua từng câu thơ, hình ảnh thơ, ý tưởng thơ. Với mỗi tập thơ, dường như nhà thơ cũng có những dụng ý riêng khi sắp xếp để xuất bản.
Ở tập Chiều không tên như vết mực giữa đời, Nguyễn Tiến Thanh đưa vào 21 bài thơ được sáng tác chủ yếu trong thời kỳ những năm 1980, lúc nhà thơ còn là một chàng trai ở tuổi đôi mươi. Không chỉ có thơ, tác giả cũng chủ định đưa những dòng tự bạch, những bức chân dung nhân vật cùng thời với ông khi còn là sinh viên của Trường Đại học Tổng hợp, đặc biệt là những nhân vật đã cùng gắn bó với ông ở ký túc xá Mễ Trì và phong trào thơ sinh viên. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ đã dành 2 phần Phụ lục (chiếm một nửa tập thơ) cho những kỷ niệm về “Người và thơ ở ‘tuyệt tình cốc’ Mễ Trì”, “Người đã đi qua mùa mây trắng I”, “Người đã đi qua mùa mây trắng II” (trong Phụ lục I) và Những trang sổ tay của ngày tháng cũ.
Tập thơ Chiều không tên như vết mực giữa đời, như thế, giống như một văn bản liên văn bản khi ở đó người đọc có thể tìm thấy cả thơ ca, hồi ký và cả những chân dung văn học, được hiện hữu bằng ngôn từ và cả hình ảnh.

Trong tập thơ Viễn ca, bên cạnh phần thơ chiếm dung lượng chủ yếu, nhà thơ trích dẫn những chia sẻ, những tâm sự của những người cùng thời về thơ của mình, về con người mình và về những suy tư của họ được gợi lên từ thơ mình. Cụ thể là những chia sẻ, tâm sự của Nguyễn Sĩ Đại, Nguyễn Thụy Kha, Hải Đường, Ngô Văn Giá, Phạm Xuân Nguyên, Văn Công Hùng, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Thành Phong, Trần Nhật Minh, Phùng Gia Thế, Đỗ Anh Vũ, Phạm Chu Sa, Nguyên Tô. Đó cũng là một kênh giúp người đọc hiểu thêm cả về thơ và người của một người đương thời vẫn đang cống hiến và làm việc hết mình.
Đọc thơ Nguyễn Tiến Thanh người đọc dễ nhận thấy dấu vết của những văn bản văn học, âm nhạc nổi tiếng trong văn học Việt Nam và thế giới. Ở góc độ này, liên văn bản là một thủ pháp văn học cụ thể: trích dẫn, ám chỉ, bình giải, vay mượn. Điều này được thể hiện qua rất nhiều bài thơ trong tập Loạn bút hành. Ngay trong bài thơ được lấy làm tiêu đề cho cả tập thơ Loạn bút hành, Nguyễn Tiến Thanh đã sử dụng hình ảnh của Kinh Kha, sông Dịch. Hình ảnh này gợi nhớ tới điển cố Kinh Kha hành thích Tần Thủy Hoàng trong văn học cổ Trung Quốc.
"Ta chẳng dại gì như Kinh Kha
Nhưng cũng điêu linh lúc nhớ nhà
Người xưa chống kiếm qua sông Dịch
Ta vung bút loạn bến Thương hà".
Bài thơ nhắc đến sự kiện Kinh Kha hành thích Tần Thủy Hoàng trong đơn độc và những cảm khái của chính tráng sĩ trước khi vượt sông Dịch để thực hiện việc lớn.
Tuy nhiên, ở bài thơ này, hình ảnh tráng sĩ và nhân vật tôi dường như đối chọi nhau trong cách nghĩ và hành động. Kinh Kha quyết một đi không trở lại trong nhiệm vụ dường như “bất khả thi” – hành thích một vị vua của một nước lớn; còn nhân vật “tôi” tuy không “dại gì” như Kinh Kha nhưng cũng “điêu linh” trước nỗi nhớ nhà, nhớ “em”, trước sự cô độc và khoảng trống mà “em” để lại. Chỉ khác là Kinh Kha thì “một đi không trở lại” còn nhân vật “tôi” thì “ngoảnh đầu lại” để thấy “môi chiều/ tóc mộng/ mắt sơn khê”.
Không chỉ có điển tích văn học Trung Quốc, với vốn văn chương phong phú, nhiều nhân vật nổi tiếng trong văn học thế giới cũng được nhà thơ gửi gắm qua những vần thơ của mình. Đó là Puskin, Maiacovsky của văn học Nga. Trong bài Trường hợp của thơ, Nguyễn Tiến Thanh viết:
"Pushkin viết những lời độ lượng:
“Cầu cho em được người tình như tôi đã yêu em”.
Rồi sau đó tử thương vì đấu súng
Trong giã từ còn chưa hết cơn ghen
Nhưng ngọn gió thời gian còn thổi mãi
Thổi nghiêng chiều qua những cuộc chia ly.
Mai-a cãi một người đi trước:
“Chết ở trên đời có gì là khó
Nhưng sống - bạn ơi - mới khó hơn nhiều”.
Rồi sau đó “vấp đời phàm tục”
“Vỡ thuyền tình” nên tự bắn tim đau.
Viên đạn xuyên qua nhiều thế kỷ
Rơi xuống thềm - tan vỡ những đêm sâu.
Thơ nói hộ loài người trên mặt đất
Trừ giống nòi viết ra nó - thi nhân".
Chỉ trong một bài thơ ngắn ngủi, Nguyễn Tiến Thanh đã lồng ghép cả những tên tuổi và những vần thơ bất hủ của đại thi hào Pushkin và Maiacovsky. Đó là những tâm sự về chính cuộc đời của các nhà thơ, về những tan vỡ của họ trong cuộc sống, về những triết lý sâu sắc nhưng không phải ai cũng dám nói “Chết ở trên đời có gì là khó/ Nhưng sống - bạn ơi - mới khó hơn nhiều” được cất lên để nói thay tấm lòng của thi sĩ mọi thời nói chung và chính bản thân nhà thơ nói riêng: “Thơ nói hộ loài người trên mặt đất/ Trừ giống nòi viết ra nó – thi nhân”.
Có những bài thơ, tâm sự của thi sĩ lại được gửi gắm qua một loạt hình ảnh của cả văn học Việt Nam và thế giới:
"Một con phố có cửa hàng mặt nạ
Trẻ con đeo chơi, người lớn che mình
Đông-ki-sốt hóa ra thằng nhặt lá
Đá ống bơ dưới bóng những anh hùng
Một con phố có rất nhiều băng nhóm
Đại ca admin cai quản trẻ giang hồ
Làng Vũ Đại có một thằng Bá Kiến
Vô khối Chí Phèo ném đá ngu ngơ.
Một con phố phủ bức màn sân khấu
Diễn viên hài sắm vai chính bi thương
Kiều nữ hé môi nói lời tục tĩu
Cống rãnh cùng sóng sánh với đại dương".
(Facebook 3)
Đọc bài thơ người đọc thấy ngay những cái tên quen thuộc của văn học thế giới và Việt Nam, những cái tên quen thuộc đến mức đã trở thành những danh từ chung để chỉ những loại người phổ biến trong xã hội Việt Nam: Đông-ki-sốt, Vũ Đại, Bá Kiến, Chí Phèo... Từ bài thơ người đọc thấy một hiện thực xã hội được gợi ra từ những nhân vật cả ngờ nghệch lẫn khôn ngoan, cả anh hùng lẫn nạn nhân, cả người tốt lẫn kẻ xấu. Nhà thơ không trực tiếp mô tả mà gián tiếp dùng những hình ảnh và nhân vật quen thuộc để người đọc vừa có thể dễ dàng hình dung, vừa có thể suy ngẫm về thực trạng ấy.
Trong những vần thơ viết về những thiếu nữ đương xuân, Nguyễn Tiến Thanh lại gợi nhắc người đọc tới hình ảnh của cô Tấm ngày xưa qua câu ca “Thị ơi, thị rụng bị bà” trong truyện cổ tích Tấm Cám, hay hình ảnh của con chim phượng hoàng với chiếc túi ba gang trong truyện cổ tích Cây khế, hình ảnh Mỵ Châu trong truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy:
"Em mười sáu tuổi hay chưa
Ta vô duyên, có bao giờ biết đâu
Thời gian - nước chảy chân cầu
Chớp hàng mi, lá trôi vèo tuổi thơ
Đò ta cập mạn mùa thu
Gặp trong cổ tích em vừa bước ra
“Thị ơi, thị rụng bị bà”
Thị thơm có phải thị là em không?
Ngày mai má đỏ môi hồng
Người ta sắp lớn kén chồng giàu sang
Ta nghèo may túi ba gang
Đựng dăm mộng ước, vài trang thơ tình
Gửi cho ta, gửi cho mình
Cái thời xa lắc để dành khế chua".
(Tuổi trăng tròn)
"Hoa trinh nữ
Trắng bên đường như áo Mỵ Châu xưa
Mẫu đơn đỏ soi bóng trời hồi tưởng
Không cần lửa hồng, không cần lông ngỗng trắng
Bước quay về đâu lạ lối thân quen".
(Trung du)

Tâm sự trong bài thơ là những tâm sự của một người con trai đang độ tuổi thanh niên, tràn đầy nhiệt huyết và xúc cảm với tình yêu, mộng ước, thơ tình… Tất cả được gửi gắm bên những trăn trở về thời gian. Đây cũng là trăn trở thường hay trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Tiến Thanh. Nhà thơ có những bài thơ thể hiện sâu sắc thế giới quan cũng như những cảm nhận về sự chảy trôi của thời gian như Từ Thức, Lời buồn cho em (Tặng những em bé Khâm Thiên 12.1972), Tháng giêng…
Không chỉ “liên văn bản” với thơ ca, tiểu thuyết, nhiều tác phẩm của Nguyễn Tiến Thanh còn “liên văn bản” cả với âm nhạc. Trong bài thơ Ngày hôm qua (Đoản khúc số 4) nhà thơ có viết:
"Quán cà phê nhỏ như phím guitare mà
mênh mang âm nhạc.
Giai điệu hồn nhiên và thẳm sâu tựa bể...
Bể học, bể dâu, bể trầm luân, bể tình, bể khổ.
Yesterday.... Yesterday!
Mà thôi, bây giờ là hôm nay - phế tích tinh khôi
chưa kịp xanh rêu của Ngày Hôm Qua...
Vì sao vậy hở mùa đông?
Vì hôm nay là hôm qua của ngày mai".
Bài thơ là những suy tư của thi sĩ về thời gian, về những sự biến động của con người trước thời gian của đời người: hôm qua, hôm nay, ngày mai… Tất cả những khái niệm ấy rồi cũng sẽ chỉ là tương đối bởi thời gian luôn chảy trôi, đời người thì vô thường và không ngừng biến động. Âm hưởng chủ đạo ấy được gửi gắm qua giai điệu của bài hát Yesterday nổi tiếng của ban nhạc The Beatles. Ở những bài thơ khác, nhà thơ nhắc đến những làn điệu âm nhạc quen thuộc của người Việt như lý qua cầu, và những điệu nhạc quen thuộc trên thế giới như lambada, serenade…những nhạc cụ như guitar, piano… kết hợp với nhịp thơ đặc biệt tạo nhạc tính khiến cho thơ thêm phần cuốn hút và giàu xúc cảm.
Đọc thơ Nguyễn Tiến Thanh người đọc dễ dàng nhận ra nhiều những cấu trúc ngôn từ tinh tế và xúc cảm của nhà thơ là những kết cấu ngôn từ rất quen thuộc trong thi ca, đặc biệt là trong văn học dân gian Việt Nam. Những kết cấu quen thuộc thường thấy có thể kể đến như “chớp bể mưa nguồn”, “tràng giang”, “chim sáo tang tình”, “tương tư”, “trái cấm”, “phục sinh”, “sắc sắc không không”, “qua cầu gió bay”, “gừng cay muối mặn”, “táo rụng sân đình”, “hóa đá trông chồng”, “tháng giêng rét đài”… Những tổ hợp này trong thơ của Nguyễn Tiến Thanh thường ít khi xuất hiện ở dạng nguyên bản mà được diễn đạt rất linh hoạt, tinh tế, giàu cảm xúc trong thơ:
"Người đi, ừ cũng đi rồi
Có đau dưới gót chân trời viễn thu?".
(Đi)
"Người ta trên bến dưới cầu
Nói ra gió thổi bay câu thật lòng:
Chờ nhau mặn muối cay gừng
Hay là rụng táo sân đình hở em?
(…)
Triệu năm hóa đá mong chồng là em
(…)
Để bơ vơ cái rét đài
Tháng Giêng bỏ lại một vài vết chân...
Một mai giã biệt nhé buồn
Còn nghe chớp bể mưa nguồn tiễn đưa?…
(…)
Còn đâu chim sáo tang tình
Tháng giêng đưa tết một mình sang sông
Tóc dài hơn cả nhớ mong
Phong phanh gió bấc muộn chồng tái môi…".
(Ngẫu hứng hoa đào)
Thậm chí, có những bài thơ, từ một tứ thơ quen thuộc trong ca dao, nhà thơ viết nên cả một bài thơ đầy tình tứ:
"Cô gái ơi đi đâu mà vội vã
Va phải người ta, rách áo rồi này
Tay con giai vốn vụng đường may vá
Đời thì nghèo, lấy đâu áo mà thay
Rồi mai mốt mùa đông về lạnh giá
Gió bấc lùa anh biết tính làm sao.
Hay là mượn em về em khâu hộ
Như tự thuở nào, như trong ca dao".
(Trong ngõ nhỏ)
Như vậy, có thể thấy, với Nguyễn Tiến Thanh, liên văn bản vừa là một thủ pháp trích dẫn, vay mượn lại vừa là một cách sử dụng ngôn ngữ nhuần nhuyễn đến mức những “liên văn bản” được nhà thơ sử dụng đã trở thành “thuộc tính” trong văn bản của thơ ông. Đó là một dấu ấn liên văn bản rất tự nhiên mà chắc chắn được tạo nên từ vốn văn hóa đọc rất sâu sắc của tác giả.
Thơ ca là một thể loại tuy có dung lượng ngắn nhưng lại có sức hấp dẫn lớn lao. Sức hấp dẫn đó đặc biệt đến từ ngôn ngữ thơ, nhạc điệu và hình ảnh thơ. Đối với những tác phẩm thi ca của Nguyễn Tiến Thanh, người đọc có thể sẽ bị quyến rũ bởi xúc cảm được gợi nên từ chính những kỷ niệm đầy sâu sắc mang dấu ấn của một thời sinh viên sôi nổi thuộc thế hệ mà ngày nay chỉ còn có thể tìm hiểu những trải nghiệm qua sách vở. Nhưng đó lại là những trải nghiệm đầy ấn tượng.
Đọc thơ Nguyễn Tiến Thanh, người đọc cũng sẽ cần trang bị những tri thức về văn hóa văn học bởi nhiều những câu chuyện thơ được gửi gắm qua những tri thức văn hóa một cách kín đáo trong thơ. Hay cũng có thể nói, đôi khi đọc thơ Nguyễn Tiến Thanh người đọc có thể có thêm những trải nghiệm của việc học hỏi những tri thức mới từ thủ pháp liên văn bản được nhà thơ sử dụng trong kỹ thuật sáng tác của mình.
[1] Lê Thị Dương, Chuyển thể văn học – điện ảnh (nghiên cứu liên văn bản), Nxb. KHXH, H., 2016, tr. 51.
[2] Dẫn theo I.P. Ilin và E.A. Tzurganova (chủ biên), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX, (Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch), Nxb. Đại học Quốc gia, H., 2003, tr. 442-443.
[3] Dẫn theo I.P. Ilin và E.A. Tzurganova (chủ biên), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX, Sđd, tr.444-445.
[4] Lê Thị Dương, Chuyển thể Văn học – Điện ảnh (nghiên cứu liên văn bản), Tlđd, tr.39.

RSS