Khi văn hóa Việt trở thành căn cốt cho ballet đương đại

HOÀNG MINH

VHO - Trong bối cảnh hội nhập và kinh tế tri thức, công nghiệp văn hóa được xác định là động lực tăng trưởng mới của đất nước. Nghị quyết 80/NQ-CP nhấn mạnh phát triển lĩnh vực này dựa trên sáng tạo, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, gắn bảo tồn di sản với phát triển thị trường.

Khi văn hóa Việt trở thành căn cốt cho ballet đương đại - ảnh 1
Từ chiếc nơm đến vũ đạo, “Dó” viết lại ngôn ngữ ballet Việt

Trong tổng thể đó, nghệ thuật biểu diễn giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì vừa là lĩnh vực kết tinh giá trị truyền thống, vừa có khả năng thương mại hóa và lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống đương đại.

Lĩnh vực của nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật hàn lâm nói chung và ballet nói riêng được đề cập đến như một “nàng tiên” vừa thức giấc.

Hình hài mới của nghệ thuật biểu diễn trong căn cốt văn hóa Việt

Trước hết, theo tinh thần Nghị quyết 80, phát triển công nghiệp văn hóa phải đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Nghệ thuật biểu diễn (NTBD) chính là hình thức bảo tồn di sản phi vật thể một cách sinh động và bền vững. Nói cách khác, NTBD cần phải giữ được căn cốt văn hóa Việt. Nếu di sản chỉ được lưu giữ dưới dạng tư liệu mà không được thực hành thường xuyên, giá trị sống của nó sẽ suy giảm.

Thông qua biểu diễn định kỳ, dàn dựng sân khấu, tổ chức festival, chương trình nghệ thuật phục vụ cộng đồng và du lịch, di sản được “tái sinh” trong đời sống hiện đại.

Bên cạnh vai trò bảo tồn, NTBD còn góp phần thực hiện mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng. Nghị quyết 80 xác định cần xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Nghệ thuật biểu diễn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế thông qua bán vé, tài trợ, quảng cáo, bản quyền, phát hành trên nền tảng số và kết hợp với du lịch văn hóa.

Các chương trình biểu diễn thực cảnh, nghệ thuật truyền thống phục vụ khách du lịch hay các sự kiện văn hóa quy mô lớn không chỉ tạo việc làm cho nghệ sĩ, đạo diễn, kỹ thuật viên mà còn thúc đẩy các ngành liên quan như truyền thông, thiết kế, thời trang và dịch vụ.

Như vậy, NTBD tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa, góp phần gia tăng tỷ trọng đóng góp vào GDP như mục tiêu Nghị quyết đề ra.

Trong thời gian gần đây, nghệ thuật biểu diễn đã và đang lột xác trong một hình hài mới. Vẫn giữ được căn cốt văn hóa Việt, nhưng NTBD thể hiện một chuyển mình từ “nghệ thuật bao cấp” sang “sản phẩm công nghiệp văn hóa”, chuyên nghiệp hóa trong chu trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường và bước chân vào hội nhập quốc tế, khai thác mạnh công nghệ và chuyển đổi số. Từ đó tạo ra doanh thu lớn và hiệu ứng kinh tế lan tỏa mạnh mẽ.

Không chỉ dừng lại ở các chương trình concert, đại nhạc hội, các lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn khác cũng từng bước thay đổi. Thay vì dừng lại ở yếu tố nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, múa dân gian, mang tính riêng rẽ… NTBD tiếp tục mang đến một hình hài mới với sự kết hợp rất sáng tạo giữa truyền thống và đương đại.

Khi văn hóa Việt trở thành căn cốt cho ballet đương đại - ảnh 2
Nỗ lực định hình bản sắc Việt trong nghệ thuật hàn lâm

Việc kết hợp giữa chất liệu truyền thống và ngôn ngữ đương đại đang trở thành một xu hướng thẩm mỹ nổi bật trong đời sống nghệ thuật Việt Nam. Đây không chỉ là giải pháp làm mới di sản, mà còn là chiến lược phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa có khả năng cạnh tranh, tiếp cận công chúng trẻ và hội nhập quốc tế.

Có thể nhắc đến một số tác phẩm của Nhà hát Nhạc, Vũ kịch Việt Nam đặt yếu tố dân tộc vào không gian dàn dựng hiện đại, sử dụng thiết kế ánh sáng và sân khấu tối giản như vở ballet Hàm lệ minh châu, Đông Hồ và gần đây nhất là vở ballet đương đại

Hay việc đưa Dàn nhạc tre nứa Sức sống mới kết hợp với dàn nhạc giao hưởng; Dàn nhạc giao hưởng quốc gia Việt Nam đưa nhạc cụ dân tộc như đàn bầu, đàn tranh, đàn T’rưng vào không gian giao hưởng…

Với sự thay đổi hình hài mới trong một căn cốt Việt, NTBD Việt Nam trong thời gian tới sẽ hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết 80 đã đề ra cho ngành công nghiệp văn hóa. Và NTBD, trong đó nghệ thuật hàn lâm (bao gồm opera, ballet và giao hưởng) cũng cần có sự “thay máu” để tạo nên một hình hài mới, với những tác phẩm xứng tầm quốc tế nhưng vẫn giữ được hồn cốt Việt.

Bước chuyển của ballet Việt trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa

Trong tiến trình tìm kiếm bản sắc cho nghệ thuật hàn lâm Việt Nam, câu hỏi luôn đặt ra không phải là “kể chuyện gì”, mà là “kể bằng hệ thẩm mỹ nào”. Vở ballet của Nhà hát Nhạc, Vũ kịch Việt Nam kết hợp với Công ty cổ phần nghệ thuật Thanh (Thanh Production) và Liên minh châu Âu (EU) xuất hiện như một nỗ lực trả lời thẳng thắn: lấy văn hóa Việt làm nền tảng cấu trúc, không chỉ như chất liệu minh họa mà như căn cốt tư duy sáng tạo.

Từ hình tượng Thần Nông, chiếc nơm, đến nhịp điệu lao động nông nghiệp, vở diễn kiến tạo một dòng ballet đương đại mang diện mạo mới – nơi cơ thể hàn lâm mang linh hồn đất Việt.

Trong văn hóa lúa nước, Thần Nông không đơn thuần là một vị thần huyền thoại, mà là biểu tượng của khai mở canh tác.

Khi văn hóa Việt trở thành căn cốt cho ballet đương đại - ảnh 3

Khi hình tượng này được đưa vào ballet, điều quan trọng không nằm ở tạo hình sân khấu hay phục trang, mà ở cách tác phẩm tiếp nhận hệ triết lý của nó. Thay vì cấu trúc kịch tính tuyến tính theo mô hình xung đột - cao trào - giải quyết đặc trưng của ballet cổ điển châu Âu, vận hành theo logic tuần hoàn.

Các lớp múa không leo thang theo bi kịch cá nhân, mà mở rộng dần trong sự cộng hưởng tập thể. Cao trào vì thế không phải sự sụp đổ hay chiến thắng của một nhân vật, mà là sự hòa nhập của con người với tự nhiên và cộng đồng.

Những động tác như quăng chài, đặt nơm, gánh nước, cấy lúa… vốn thuộc về đời sống thường nhật của cư dân nông nghiệp. Trên sân khấu Dó, chúng không được tái hiện theo lối tả thực, mà được trừu tượng hóa thành quỹ đạo chuyển động và nhịp điệu cơ thể.

Ballet cổ điển hướng tới đường nét thẳng, vươn cao, lý tưởng hóa cơ thể. Trong khi đó, kéo trọng tâm xuống thấp, gia tăng chuyển động xoắn, cuộn, trượt – tạo cảm giác “bám đất”. Sự thay đổi này không chỉ là kỹ thuật, mà là thay đổi hệ quy chiếu thẩm mỹ: từ khát vọng vươn lên bầu trời sang sự gắn kết với mặt đất.

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW về xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, yêu cầu đặt ra không chỉ là gia tăng số lượng sản phẩm nghệ thuật, mà là kiến tạo những tác phẩm có bản sắc, có khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Ballet có thể được nhìn nhận như một trường hợp tiêu biểu: lấy văn hóa Việt làm gốc sáng tạo, chuyển hóa di sản thành giá trị nghệ thuật đương đại, đồng thời mở ra tiềm năng khai thác kinh tế - thương hiệu - thị trường.

Với không gian hội nhập và phát triển công nghiệp văn hóa, những tác phẩm như đặt ra một thông điệp rõ ràng: bản sắc không nằm ở việc sao chép mô hình thành công của thế giới, mà ở khả năng biến di sản thành động lực sáng tạo.

Một số nội dung của Nghị quyết 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam là định vị và quảng bá thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế mang đậm bản sắc văn hoá, con người Việt Nam; Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia;

Cùng với đó là đẩy mạnh đăng cai các sự kiện văn hoá, nghệ thuật quốc tế, tham gia sâu tại các diễn đàn lớn; Xuất khẩu sản phẩm - dịch vụ văn hoá có sức cạnh tranh toàn cầu;

Tiếp đến là xây dựng Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài, lấy văn hoá làm nền tảng, trụ cột, lan toả hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hoá, nhân văn, có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào dòng chảy văn minh của nhân loại… thì những tác phẩm mang tính sáng tạo như đã tạo nên bản sắc riêng khi hình thành một dòng ballet đậm căn tính Việt.

Khi văn hóa Việt trở thành căn cốt cho ballet đương đại - ảnh 4

lấy di sản làm nền, lấy sáng tạo làm động lực, ấy bản sắc làm lợi thế cạnh tranh, lấy hội nhập làm hướng đi tất yếu. Điều này được thấy rõ qua việc Ballet là loại hình hàn lâm quốc tế hóa cao. Muốn hội nhập, phải sử dụng ngôn ngữ chung. Muốn khác biệt, phải đưa vào đó căn tính riêng. Sự giao thoa giữa kỹ thuật quốc tế và nội dung văn hóa Việt chính là mô hình phát triển mà Nghị quyết 80 hướng tới: hội nhập nhưng không hòa tan.