Concert quốc gia: Tín hiệu của công nghiệp âm nhạc

NGUYỄN QUANG LONG - Nhà nghiên cứu âm nhạc, nhạc sĩ

VHO - Sự bùng nổ của mô hình “Concert quốc gia” không chỉ phản ánh nhu cầu thưởng thức hiện tại của công chúng, mà còn cho thấy “bản đồ” âm nhạc đại chúng Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với xu hướng tiếp cận gần với thế giới, đồng thời vẫn mang những đặc điểm riêng.

Concert quốc gia: Tín hiệu của công nghiệp âm nhạc - ảnh 1
Việc tổ chức thành công các “concert” quy mô gợi mở tham vọng hình thành một ngành công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực âm nhạc giải trí Ảnh: TRẦN HUẤN

 

 

Công nghệ và xu hướng dẫn dắt

Vài năm gần đây, khán giả ngày càng quen với những đại nhạc hội quy mô lớn, thường được gọi bằng nhiều cái tên như concert quốc gia, đại nhạc hội, lễ hội âm nhạc... Đó là những chương trình hoành tráng, công phu, có tính chất sự kiện văn hóa nghệ thuật tầm vóc địa phương hoặc quốc gia.

Đặc biệt, trong năm 2024-2025, các ngày kỷ niệm lớn như 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10.10.1954 - 10.10.2024); sự kiện A50 - kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2025) và A80 - kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9 (1945-2025)… hàng loạt chương trình lớn được tổ chức. Cùng với đó, nhiều chương trình giải trí, các lễ hội âm nhạc quốc gia tổ chức tại nhiều địa phương tạo ra những chuyển động rõ rệt cho âm nhạc. Tất cả vẽ nên một bức tranh kết hợp nhịp nhàng giữa truyền thống và hiện đại, giữa tuyên truyền và giải trí, giữa bản sắc và công nghệ trong đời sống âm nhạc.

Có thể coi các “concert quốc gia” góp phần đưa âm nhạc cách mạng và nhạc dân gian bước vào thời kỳ sân khấu lớn. Nói ngay trong các chương trình A80 và A50 năm 2025, khán giả dễ dàng nhận thấy nhiều tiết mục được phối khí lại theo hướng điện tử hóa, hay rất nhiều ca khúc kinh điển được làm mới theo phong cách cinematic kết hợp LED mapping, hoặc một số bài dân ca được remix nhẹ, sử dụng trống điện tử và tiết tấu hiện đại…

Đáng lưu ý là tư duy dàn dựng quy mô lớn của Việt Nam đang tiến gần hơn với mô hình của các nước châu Á. Hệ thống âm thanh line-array, LED độ phân giải cao, pháo hoa lạnh, pyrotechnic, augmented reality (AR) được sử dụng ngày càng nhiều, đưa “concert quốc gia” trở thành “đại nhạc hội” đúng nghĩa. Điều này tạo nên điểm nổi bật, đó là xóa nhòa khoảng cách giữa nhạc nhẹ và nhạc chính thống vốn như một rào cản định kiến trước đây. Cùng với đó, âm nhạc điện tử (EDM) phổ biến trong cả concert V-pop lẫn các sự kiện chính trị - văn hóa. Dân ca và chất liệu truyền thống trở thành nguồn cảm hứng. Dấu hiệu tích cực, nghệ sĩ trẻ đang dần sở hữu tư duy sản xuất âm nhạc hướng đến thị trường lớn, coi concert là “sản phẩm văn hóa” chứ không chỉ là “đêm diễn”.

Việc tổ chức thành công các “concert” quy mô lớn tác động tích cực vào đời sống âm nhạc. Trước hết, nó đáp ứng trực tiếp nhu cầu thưởng thức ngày càng cao của khán giả trẻ, mang đặc thù nhu cầu nghe - nhìn hiện đại, trải nghiệm đông đảo, cảm giác “live” trọn vẹn với chất lượng âm thanh, ánh sáng, dàn dựng và dịch vụ tiệm cận quy chuẩn quốc tế. Khi được trao cơ hội trải nghiệm đúng nghĩa, khán giả trở thành lực đẩy tự nhiên cho thị trường.

Rộng hơn, các concert lớn đánh dấu bước hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam với khu vực và thế giới. Cách vận hành sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật, mô hình hợp tác quốc tế hay tư duy làm thương hiệu nghệ sĩ đều cho thấy dù chỉ là dấu hiệu ban đầu nhưng rõ ràng Việt Nam đang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị âm nhạc toàn cầu. Quan trọng hơn, sự thành công của các đêm nhạc này đã nâng hoạt động tổ chức chương trình lên một vị thế mới. Đây là tín hiệu gợi mở cho tham vọng hình thành một ngành công nghiệp văn hóa trong lĩnh vực âm nhạc giải trí, nơi sản phẩm nghệ thuật có thể tạo giá trị kinh tế, giá trị thương hiệu và lan tỏa văn hóa.

Trông ra, nhìn vào

Việt Nam không đứng ngoài dòng chảy khu vực, việc mở rộng mô hình “đại concert” cho thấy sự gợi mở đến 3 thị trường mạnh là Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan. Cả 3 mô hình này đều có điểm tương đồng và khác biệt nếu so với Việt Nam.

Hàn Quốc, trọng tâm của nước này là công nghiệp hóa tối đa, trong đó hạt nhân là idol và thị trường. Cụ thể, K-pop đã xây dựng được chuỗi sản xuất hoàn chỉnh từ đào tạo thực tập sinh, sản xuất âm nhạc, xây dựng thương hiệu nghệ sĩ, đến truyền thông toàn cầu. Quy mô concert của Hàn Quốc như K-Con, Dream Concert… thể hiện tính chuyên nghiệp và tiêu chuẩn hóa rất cao. Nhìn từ Hàn Quốc và soi rọi vào Việt Nam hiện tại, có thể thấy có sự tương đồng trong việc đầu tư sân khấu và hiệu ứng hình ảnh, nhưng khác biệt căn bản ở chỗ “concert quốc gia” Việt Nam thường mang mục tiêu văn hóa - xã hội, trong khi Hàn Quốc tập trung hoàn toàn vào thị trường giải trí.

Trung Quốc vượt trội về công nghệ sân khấu và sức mạnh thị trường. Gala Xuân Vãn chào năm mới hằng năm của CCTV, các đêm nhạc tại Thượng Hải, Bắc Kinh, Hồ Nam… đều chú trọng đến hiệu ứng sân khấu, thậm chí thuộc hàng bậc nhất châu Á. Việt Nam cũng giống Trung Quốc ở việc kết hợp truyền thống với pop và EDM, song khác biệt ở năng lực công nghiệp biểu diễn của họ rất mạnh, thị trường âm nhạc của họ quá lớn, giúp các sản phẩm dễ sinh lời và tạo đòn bẩy đầu tư.

Thái Lan là đất nước có nền giải trí âm nhạc hài hòa giữa màu sắc, thị giác và tinh thần lễ hội. Một vài hoạt động biểu diễn thành công và nổi bật như: T-POP Stage Show (một chương trình âm nhạc trực tiếp của Thái Lan, được phát sóng hằng tuần trên kênh Workpoint, nơi các nghệ sĩ nổi tiếng và mới nổi biểu diễn các bài hát của họ); Big Mountain Music Festival (festival âm nhạc lớn tổ chức thường niên vào tháng 12) nơi mà nhạc EDM, pop pha trộn với văn hóa bản địa; các concert của các nhóm nhạc thần tượng nữ như BNK48, 4EVE hay các nam thần tượng như PP Krit, Billkin… đều hướng đến sự trẻ trung, rực rỡ và thân thiện với cộng đồng. Điểm đáng ghi nhận từ Thái Lan là văn hóa bản địa luôn xuất hiện một cách tự nhiên trong pop.

Quay trở lại Việt Nam, nhìn vào “concert quốc gia”, hướng đi của V-pop đang nổi bật 4 khía cạnh: Đầu tiên là biểu diễn hóa mạnh mẽ, được dàn dựng với hiệu ứng hình ảnh, biên đạo múa và đội hình lớn. Tiếp đến là thị giác hóa âm nhạc, âm nhạc không chỉ để nghe mà còn để xem. Tiếp theo là sự lai ghép văn hóa, kết hợp nhiều chất liệu âm nhạc cho thấy Việt Nam đang tiến tới thứ pop mang màu sắc bản địa. Cuối cùng là tăng tính tp th, với đặc điểm sân khấu đông người, trình diễn quy mô lớn, tinh thần cộng đồng.

Concert quốc gia: Tín hiệu của công nghiệp âm nhạc - ảnh 2

Vậy thì từ kinh nghiệm quốc tế, muốn phát triển âm nhạc giải trí Việt Nam cần chú trọng những gì?

Theo chúng tôi, cần đào to bài bn và nuôi dưỡng tài năng tr. Thành công của Hàn Quốc cho thấy không thể có nền âm nhạc mạnh nếu thiếu hệ thống đào tạo chuyên nghiệp cho producer, songwriter, performer. Điều này Việt Nam hiện thiếu. Cũng cần đầu tư vào công nghệ biểu diễn, bài học từ Trung Quốc cho thấy công nghệ sân khấu, ánh sáng, âm thanh là yếu tố then chốt. Nếu muốn xây dựng brand “concert quốc gia” như một sản phẩm văn hóa đặc sắc, Việt Nam cần hệ thống cơ sở vật chất ổn định, đạt chuẩn quốc tế. Thêm nữa, cần coi trọng khai thác bản sắc vùng miền, điều này Thái Lan đã làm rất tốt. Thực tế, âm nhạc truyền thống Việt Nam rất phong phú, đây là nguồn tài nguyên vô tận để làm nên bản sắc âm nhạc đương đại.

Hướng trọng điểm phát triển phù hợp nhất là vừa giải trí vừa giữ bản sắc. Trong đó, kết hợp giải trí và tuyên truyền mềm. Do đặc thù lịch sử văn hóa, Việt Nam vẫn cần âm nhạc mang nhiệm vụ truyền tải tinh thần dân tộc, giá trị xã hội. Điều này không phải rào cản, mà có thể trở thành lợi thế nếu được thực hiện tinh tế. Thứ hai, xây dng hsinh thái âm nhc đương đại. Để phát triển thành công nghiệp văn hóa, cần thực hiện đồng bộ xây dựng nền tảng quản lý bản quyền hiệu quả, đào tạo nhà sản xuất âm nhạc trẻ, khuyến khích hợp tác quốc tế, hỗ trợ các đơn vị tổ chức sản xuất và liên kết âm nhạc với du lịch - sự kiện văn hóa - truyền thông số… Những yếu tố này tạo nên nền tảng để V-pop phát triển bền vững.

Thay lời kết

Tóm lại, “concert quốc gia” là bước đi quan trọng để nâng tầm âm nhạc Việt. “Concert quốc gia” không chỉ là show lớn mà là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang tìm kiếm một hướng đi âm nhạc hiện đại hơn, hội nhập hơn nhưng vẫn giữ bản sắc. Sự kết hợp giữa truyền thống với đương đại, giữa dân ca với EDM, giữa giá trị văn hóa với yếu tố giải trí… phản ánh nỗ lực định hình một diện mạo mới năng động, trẻ trung, giàu tính biểu tượng cho V-pop.

Nếu tiếp tục đầu tư và đầu tư có bài bản vào công nghệ, nhân lực và chiến lược phát triển lâu dài, âm nhạc đại chúng hoàn toàn có thể trở thành động lực của công nghiệp văn hóa, đóng góp vào sức mạnh mềm quốc gia và khẳng định vị thế của Việt Nam trong bản đồ âm nhạc khu vực.